12 phẩm chất sinh viên Luật nên(phải) có

1 Self-belief –  Niềm tin nội tâm

Niềm tin nội tâm là điều mà ai cũng nên có. Đơn giản là bạn sẽ không làm được gì nếu chính bạn không tin bạn có khả năng làm được. Henry Ford (Người sáng lập hãng xe Ford) nói rằng “Bất kể bạn nghĩ bạn làm được hay không làm được, bạn đều có thể đúng”.

Tại sao người học Luật cần có niềm tin nội tâm? Bởi vì Luật là chuyên ngành khác biệt so với những chuyên ngành khác mà bạn có thể học trong tương lai. Sẽ có những khoảng thời gian bạn không thể hiểu được Luật là gì, và tại sao Luật lại như vậy… Nhưng sẽ đến những khoảng thời gian bạn hiểu Luật một cách toàn diện, niềm tin nội tâm là thứ bạn cần phải có để khiến luật phát huy tác dụng của nó. (Khiến Luật phát huy tác dụng trong trường hợp này nghĩa là, bạn sẽ là người nhận ra và bảo vệ những giá trị của pháp luật trong bất cứ trường hợp nào mà những giá trị đó bị xâm phạm. Ví dụ, bạn sẽ lên tiếng đòi huỷ bỏ một đạo luật khiến mỗi cá nhân, hoặc mỗi nhóm người trở nên bất bình đẳng so với cá nhân hoặc nhóm khác; bạn sẽ tố cáo những hành vi sai trái theo quy định của pháp luật, hoặc bạn sẽ đấu tranh để loại bỏ những đạo luật xâm hại đến các quyền tự nhiên của con người, hoặc bất cứ đạo luật nào có tiềm năng phá huỷ các giá trị nền tảng của xã hội… Để làm được những điều này, bạn cần có niềm tin vào bản thân mình, dựa trên những kiến thức và nhận thức của chính mình – Giải thích thêm của người dịch)

Nếu bạn đang thiếu niềm tin ở chính mình thì làm sao có thể học Luật? Xin được nhấn mạnh rằng tất cả 12 phẩm chất được nêu ở đây đều có thể có được thông qua các giai đoạn “bỏ hạt, vun trồng” để “nảy mầm, mọc cây, đơm hoa, kết trái”. Nói cách khác, bạn có thể tự mang đến niềm tin cho mình. Trong bộ phim “The Verdict”, nhân vật Paul Newman nói: “trong tôn giáo của tôi, mọi người thường nói “phải hành động như bạn đã có niềm tin, thì niềm tin sẽ được mang đến cho bạn””. Vậy nên, nếu bạn là người thiếu niềm tin, hãy “tỏ ra như bạn đã có niềm tin” và hành động như bạn đã thật sự có niềm tin vào bản thân. Trong mọi trường hợp, dù đang lúng túng hay hoang mang, hãy cứ hành động như bạn đã có sẵn niềm tin cho hành động, thì niềm tin dần dần sẽ xuất hiện và định hình trong bạn.

2 Sangfroid or Cold blood – Máu lạnh

Người có máu lạnh được coi là có khả năng giữ thái độ bình thản trước những tình huống áp lực cao. Trong việc học Luật, sinh viên thường phải đối mặt với một khối lượng đồ sộ các loại thông tin, và đòi hỏi họ phải thành thạo trong việc tiếp nhận, xử lý và nhận định. Không những vậy, sinh viên Luật thường được yêu cầu đọc các tài liệu pháp lý (case/vụ án), hoặc viết các bài luận trong thời gian ngắn. Và để vượt qua tất cả những chướng ngại vật đầy mồ hôi và nước mắt đó, người học Luật phải trang bị cho họ khả năng “bình thản trước mưa bom bão đạn” (stay cool).

Và để “stay cool” trong đống bài vở pháp lý ngổn ngang và chồng chất (hoặc sau này là những vụ việc chồng việc, hoặc án chồng án) bạn cần phải có chiến lược. Đó là không được nhìn công việc như một khối đồ sộ, mà nên “bẻ nát, đập vụn”, rồi sau đó tập trung không ngừng nghỉ vào từng mảnh nhỏ của công việc lớn. Từng bước một đi đến một kết quả cuối cùng.

3 Organization – Trật tự

Để sinh tồn trong ngành Luật mỗi sinh viên Luật đều nên phải xây đắp cho mình bản tính ngăn nắp-trật tự trong suy nghĩ.  Hãy ghì trong não Nguyên tắc sắt (Iron rule) của giới Luật sư: “trình bày rõ ràng, hoặc là chết”. Bạn sẽ không thể trình bày rõ ràng nếu mọi suy nghĩ trong não bạn không được sắp xếp theo một thứ tự hợp lý và mạch lạc nhất. Tất nhiên, một chút tự nhiên của bản năng hay lộn xộn trong tư duy cũng không hại gì lắm. Vì hầu hết những người tư duy theo đường thẳng (thinking in straight lines) thường không có khả năng nhận định những vấn đề phức tạp, hoặc không thể “nhìn sâu trông rộng” về những nguyên nhân sâu xa bên trong của vấn đề. Nhưng cuối cùng, bạn vẫn phải sắp đặt mọi suy nghĩ theo những trật tự nhất định, và trình bày những ý nghĩ đó một cách rõ ràng.

4 Focus – Tập trung

Nhà triết học Pháp, Blaise Pascal đã từng nói rằng “lý do duy nhất khiến một người đàn ông không cảm thấy hạnh phúc là bởi anh ta không biết giữ im lặng trong căn phòng của mình”. Điều này có thể đúng hoặc không đúng cho tất cả (tôi cho rằng là đúng), nhưng hoàn toàn đúng đối với những người học Luật. Một người luôn ở trong trạng thái bồn chồn lo âu, hoặc luôn dễ dàng bị phân tâm có xu hướng không được thành công lắm trong việc học Luật. Do vậy, tập trung là phẩm chất vô cùng quan trọng cho bất cứ ai theo đuổi ngành Luật.

Một khả năng làm việc không nghỉ là điều cần thiết cho những ai học Luật. Bởi lẽ, để giải quyết những vấn đề pháp lý hóc búa đòi hỏi bất cứ sinh viên Luật nào một sự tập trung cao độ trước khi người đó có thể thấu hiểu vấn đề một cách toàn diện.

5 Self-control – Sự tự chủ/tự kiểm soát

Một trong những phẩm chất cần thiết nữa cho người học Luật, đó là khả năng từ chối (say No) trong những trường hợp mà những người bình thường sẽ hứng thú đồng ý (say Yes). Nói cách khác, người học Luật cần phải biết từ chối những thứ hấp dẫn nhất thời/hiện tại, để tập trung cho mục tiêu, cái mà sẽ tạo ra những điều đáng giá và hấp dẫn hơn nhiều trong tương lai. Ai cũng biết Facebook và Youtube dễ khiến mọi người phân tâm, đó là bởi vì nó thú vị và đầy thứ hấp dẫn, và nó có khả năng kéo mọi người từ thứ hấp dẫn này đến thứ thú vị khác. Nhưng tắt điện thoại, đọc kỹ một vụ án sẽ khiến sinh viên Luật có khả năng đạt điểm cao hơn trong kỳ thi, và do đó, có thể tốt nghiệp loại giỏi để có nhiều cơ hội công việc tốt hơn. Đó, chính là quy trình và “hậu quả” có thể xảy ra với những sinh viên Luật biết tự kiểm soát bản thân.

6 Curiousity – Sự tò mò

Để thành công trong việc học Luật, bạn cần phải thật sự tò mò muốn biết về nó, nghĩa là bạn không chỉ lướt qua bề mặt của mỗi ngành Luật, mỗi môn học, mà phải hứng thú tìm hiểu mọi ý nghĩa chi tiết của Luật. Thực tế là, hầu hết các sinh viên Luật chỉ thật sự phát hiện ra động lực học Luật của mình sau khi đã bắt đầu quá trình học. Một khi đã bị cuốn vào chương trình học, họ trở nên yêu và hứng khởi với mỗi bài học từ Luật. Nếu bạn tò mò về Luật, bạn sẽ cố để hiểu Luật trong từng câu từng chữ, từng quy định, đến tận cùng ý nghĩa của mỗi điều Luật. Nhưng điều này cũng chỉ xuất hiện với những người thật sự nghiêm túc trong việc học, rằng họ tiếp nhận, khám phá, mở rộng phạm vi bài học để thật sự xoáy vào những nội dung thực tế của Luật, chứ không phải chỉ là nội dung trên mỗi bài học. 

7 Love of reading – Thích đọc

Nếu chọn học Luật, bạn chắc chắn sẽ phải đọc rất nhiều tài liệu. Do đó, thiếu vắng một sự hứng khởi cơ bản với việc đọc sẽ khó đảm bảo cho bạn một kết quả học tập thành công ở trường Luật. Đối với bạn, nếu đọc sách là nhàm chán, đơn điệu và nặng nề, thì tốt hơn hết bạn nên chọn con đường khác.

8 Foxiness – Hiểu sâu biết rộng

Sinh viên Luật sẽ cần phải là người hiểu sâu, biết rộng. Điều này là bởi lẽ, Luật, là một chuyên ngành được định hình bởi, và liên quan đến rất nhiều các quan hệ xã hội cũng như các chuyên ngành học khác, như kinh tế, chính trị, tâm lý, lịch sử, hoặc thậm chí nhân chủng học… Tất cả những quan hệ xã hội và những nội dung của các chuyên ngành học độc lập này đều được các nhà lập pháp xem xét trong quá trình làm luật, nhằm định hình một xã hội mong muốn. Nếu bạn thật sự muốn hiểu Luật là gì, và Luật thì nên như thế nào, hoặc bạn thậm chí muốn trở thành người góp phần xây dựng nên những điều Luật cho xã hội, thì bạn cần phải sẵn sàng để “học cả thế giới”. (Điều này không có nghĩa là bạn phải “học cả thế giới” rồi thì mới có thể học Luật, nhưng có nghĩa là bạn phải sẵn sàng học và tìm hiểu tất cả những gì mà Luật dẫn bạn đến. Ví dụ như, khi bạn học Luật hình sự thì biết trước một chút kiến thức về tâm lý học hành vi sẽ giúp bạn tư duy mạch lạc hơn về động cơ hoặc mục đích của người có hành vi phạm tội. Nhưng nếu không biết gì về tâm lý học, thì bạn phải sẵn sàng bỏ thêm thời gian cho chuyên ngành này, bên cạnh Luật hình sự. Khả năng hiểu sâu biết rộng hữu ích và cần thiết cho sinh viên Luật là vậy – Giải thích thêm của người dịch)

9 Expressiveness – Bộc lộ bản thân

Như đã được đồng ý rằng “Luật, cơ bản mà nói, chính là một cuộc đối thoại để tìm ra một hình thái xã hội đáng sống”, học Luật thực ra chính là học và tham gia vào cuộc đối thoại này. Do đó, bạn phải thể hiện bản thân nếu như bạn thật sự muốn có được vị trí nào đó trong cuộc đối thoại. Trong học Luật, bạn sẽ phải sẵn sàng thể hiện suy nghĩ của mình dưới  bất cứ dạng thức nào, từ viết bài luận cho đến tranh luận với giáo viên, hoặc các bạn cùng học, hoặc với bất cứ ai hứng thú với chủ đề mà bạn đang quan tâm, hoặc xã hội đang quan tâm. Nếu bạn thấy khó để nói ra những điều bạn nghĩ, vậy thì khả năng cao là bạn cũng rất khó để thành công trong học Luật.

Một trong những lý do kiềm chế khả năng bộc lộ của con người chính là sự sợ hãi, sợ hãi điều gì đó có thể xảy ra, dù không rõ là điều gì. Một sinh viên Luật có thể muốn phản biện trước lớp, rằng người có hành vi phạm tội phải được đối xử công bằng dựa trên nguyên tắc “mọi cá nhân đều được coi là vô tội trước khi có bản án của toà án quyết định anh ta có tội”. Nhưng sinh viên này cũng có thể lựa chọn “không nói gì’, vì sợ rằng tất cả mọi người đều nghĩ khác, và do đó anh ta sẽ bị chê cười. Vậy thì cách duy nhất để vượt qua sợ hãi đó là hãy làm “những điều đáng lo sợ đó”, để xem điều gì có thể xảy ra. Nếu bạn sinh viên Luật chọn để hiện quan điểm trước lớp thì sinh viên đó sẽ nhận ra, hầu hết mọi người đều đồng ý rằng “mọi người phải được đảm bảo đối xử công bằng với các quyền luật định trước khi người đó bị toà án tuyên có tội bởi một phán quyết”. Nhưng kể cả trong trường hợp bộc lộ quan điểm và bị chê cười, thì người sinh viên Luật này cũng nhận ra rằng, thực ra có quan điểm khác với mọi người cũng không có gì ghê gớm lắm, và mọi người đều có thể có quan điểm trái ngược nhau. Do đó, chê cười người có quan điểm trái ngược mới là điều không nên làm. Điều này sẽ chỉ thúc đẩy sinh viên Luật tìm hiểu, và làm rõ thêm về những vấn đề đối lập này.

10 Accuracy – Sự chính xác

Sự chính xác là điều vô cùng quan trọng đối với sinh viên Luật. Sẽ là không thể chấp nhận được nếu một người học Luật lại trích dẫn sai điều Luật trong khi điều Luật đó đã được minh thị một cách rõ ràng, hoặc áp dụng sai Luật trong những trường hợp cụ thể; hoặc lập luận được đưa ra  không đủ chắc chắn trước một quá trình kiểm chứng logic. Điều này có nghĩa là, một khi chọn học Luật và làm bất kể công việc gì liên quan đến Luật, bạn phải loại bỏ ngay khái niệm “cũng đúng/gần đúng”, mà chỉ có “đúng”, hoặc “sai” chứ không có cái gì na ná (being close to being right is nowhere near good enough in this game).

Hãy thử xem xét ví dụ này:

D gửi cho kẻ thù của mình là A một bưu kiện chứa bom với sự sắp đặt rằng, khi A mở gói hàng ra thì bom sẽ nổ và A sẽ bị giết. Tuy vậy, ngay sau khi gửi gói hàng, D hối hận và gọi điện cho cảnh sát thú nhận về những gì mình đã làm, đồng thời hướng dẫn cụ thể để cảnh sát tháo ngòi nổ. B – một nhân viên trong đội tháo gỡ bom, được giao nhiệm vụ tháo gỡ quả bom mà B gửi đi. Đáng tiếc là trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, B đã vô tình cắt nhầm dây nối, dẫn đến việc quả bom phát nổ, B chết.

Như bạn đã được biết trong Bức thư số 2 rằng, một người được xác định là phạm tội giết người nếu người đó thoả mãn 03 yếu tố (i) hành động của người đó gây ra cái chết cho người khác; (ii) người đó hành động với sự cố ý gây ra cái chết; và (iii) người đó không có ngoại lệ hợp pháp, hoặc biện minh hợp lý nào. Thực ra trong độ tuổi 18-19 của các bạn sinh viên Luật khi mới bắt đầu khoá học, cũng không có gì quá nghiêm trọng nếu hầu hết trong số các bạn không thể áp dụng chính xác khái niệm này để xác định tội phạm. Có thể các bạn sẽ lập luận rằng “B không phạm tội giết người, vì tại thời điểm B bị chết, D không còn ý định muốn giết ai”. Trong khi khái niệm đã chỉ rõ rằng, “tại thời điểm D thực hiện hành động gửi quả bom đi, D đã có ý định giết ai đó (A), và ý định này được tính”. Bạn cũng có thể lập luận rằng “D không phạm tội giết người, vì D gửi đi quả bom với ý định giết A, chứ không phải B”. Nhưng khái niệm cũng đã chỉ rõ, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, D đã có ý định để giết ai đó, rằng ai đó sẽ phải chết. Thực ra, một sinh viên Luật được coi là áp dụng đúng Luật để xác định tội phạm trong trường hợp này, chỉ cần quan tâm đến một yếu tố duy nhất đó là “liệu rằng hành động gửi quả bom của D làm cho B bị chết”. Nếu đúng là vì D gửi đi quả bom khiến B bị chết thì tất cả các yếu tố khác cũng thoả mãn để xác định D phạm tội giết người.

11 Flexibility – Sự mềm dẻo hoặc linh hoạt

Sinh viên Luật sẽ cần sự mềm dẻo trong tư duy và nhận định để có thể đánh giá một lập luận từ nhiều phía. Điều này không có nghĩa là sinh viên Luật sẽ không có khả năng để đưa ra một kết luận rằng lập luận của bên nào là mạnh hơn hoặc yếu hơn, hoặc không rơi vào cái bẫy tư duy một chiều.

Thử xem xét ví dụ dưới đây:

Peter and Mary được thông báo rằng, Adam – cậu con trai mới sinh của họ có vấn đề về sức khỏe, sau này sẽ cần phải thay tủy thì mới có thể sống lâu dài. Đáng tiếc là cả Peter và Mary đều không phù hợp để hiến tủy. Hai người quyết định sinh thêm đứa con thứ hai, với hi vọng rằng tuỷ của đứa con này sẽ phù hợp để thay cho Adam. Ba năm sau, họ sinh ra Eve, may mắn thay tủy của Eve hợp với tuỷ của Adam. Adam lúc này đã 12 tuổi và sẽ chết nếu không được thay tủy. Nhưng Eve không đồng ý trải qua cuộc phẫu thuật đầy đau đớn và quá trình phục hồi trong bệnh viện để hiến tủy. Tại thời điểm này, cũng không có nguồn tuỷ hiến tặng nào khác. Liệu bố mẹ của Eve có được phép ép buộc Eve hiến tủy cho anh trai?

Nếu bạn trả lời một cách bản năng, rằng “Không, Eve có quyền để không bị ép buộc làm những gì trái ý muốn”. Vậy hãy nghĩ lại một chút. Câu hỏi là, liệu rằng Eve có quyền hay không? Bạn sẽ không thể trả lời đơn giản dựa trên niềm tin rằng Eve có quyền. Bởi, nếu khẳng định một cách đơn giản như vậy cũng chính là sự khép đóng tư duy vào một sự cứng nhắc, khiên cưỡng. Và có thể người khác cũng sẽ có suy nghĩ cứng nhắc như vậy, nhưng ở chiều ngược lại, rằng “Eve không có quyền”.

Cứ cho rằng “Eve có quyền không bị cưỡng ép”, nhưng hãy thử cân nhắc một “sự có thể” khác, rằng bố mẹ của Eve nên được cho phép để ép Eve thực hiện cuộc phẫu thuật hiến tủy này. Điểm bắt đầu tốt nhất để cân nhắc một lập luận trái ngược trong trường hợp này đó là xem xét các khả năng mà rõ ràng là bố mẹ của Eve nên được cho phép. Ví dụ, Eve có vấn đề về răng và cần phải đến phòng khám gặp nha sĩ, nhưng Eve quá sợ mà không chịu đi. Trong hoàn cảnh này bố mẹ của Eve nên được cho phép cưỡng ép Eve, vì lợi ích của chính Eve. Điểm này giúp chúng ta có một số điểm tựa để lập luận. Liệu rằng cưỡng ép Eve thực hiện phẫu thuật hiến tủy có chính đáng? Chúng ta sẽ phải xem xét liệu rằng thực hiện cuộc phẫu thuật hiến tủy có phải là vì lợi ích tốt nhất của Eve?

Sinh viên Luật với khả năng tư duy linh hoạt sẽ nhận ra rằng, sẽ có những lập luận cho cả hai phía. Một bên có thể lập luận rằng, việc Eve không đồng ý hiến tủy, do đó, không ai được phép cưỡng ép, sẽ mang lại những tổn hại cho chính Eve. Rõ ràng là Eve sẽ mất đi người anh trai, người bạn đồng hành trong cuộc sống thời niên thiếu của mình. Hơn nữa, lập luận cũng có thể đưa ra rằng, sẽ có những tổn hại về mặt tâm lý khi lớn lên, Eve phải sống trong sự dằn vặt vì đã không cứu anh trai khi bản thân có thể. Ngược lại, lập luận cũng có thể đưa ra, rằng cưỡng ép Eve thực hiện phẫu thuật không phải vì lợi ích của Eve, mà còn mang lại những tổn hại khác. Rằng, Eve sẽ sống trong bực tức vì nghĩ bố mẹ không có chút tôn trọng nào, và bản thân chỉ là nguồn hiến tặng cho Adam khi cần thiết. Eve cũng có thể gặp phải những chấn thương/thương tật đối với cơ thể mình sau khi thực hiện ca phẫu thuật.

12 Judgment –  Sự phán xét

Nếu chỉ dừng lại ở việc có khả năng nhận định lập luận từ cả hai phía trong một vấn đề một cách mềm dẻo, linh hoạt thì không đủ để sinh viên Luật có thể thành công trong học tập cũng như việc hành nghề sau này. Sinh viên Luật cần phải có khả năng nhận định lập luận của phía nào mạnh hơn, và chính đáng hơn, để cuối cùng, hình thành phán xét của mình về vấn đề đó. 

Để hình thành một khả năng phán xét tốt, cần tối thiểu hai khả năng khác, đó là khả năng phân biệt điều gì quan trọng, và điều gì kém quan trọng hơn; và khả năng ra quyết định dựa trên “trí khôn của ta đây” (practical wisdom). Nếu bạn chưa có khả năng thứ nhất, rằng bạn thấy khó để nhận định đâu là điều quan trọng, đâu là cái ít quan trọng hơn. Vậy thì hãy bắt đầu tập luyện để hình thành kĩ năng này, bằng việc tập tóm tắt các tài liệu. Bằng việc tóm tắt các tài liệu, bất cứ cái gì bạn đọc, giảm xuống khoảng 10% của văn bản gốc, dần dần sự nhận biết các điểm trọng yếu sẽ hình thành trong trí não. 

Khả năng thứ hai là khả năng nhận định đâu là điều đúng nên làm trong những trường hợp cố định với rất nhiều lựa chọn. Giả sử, bạn tham gia kỳ thi với câu hỏi “Đề xuất những giải pháp cải cách Luật hình sự, với 96 dòng”. Bạn sẽ xử lý như thế nào trong tình huống này với khoảng giới hạn câu chữ đó? Bạn có thể chọn viết bài luận gợi ý (1) 16 vấn đề cần cải cách, và dành 6 dòng cho mỗi đề xuất; (2) 8 vấn đề cần cải cách, và dành 12 dòng cho mỗi đề xuất, hoặc (3) 3 vấn đề cần cải cách với 32 dòng cho mỗi vấn đề. Lựa chọn được đưa ra nhờ sử dụng “trí khôn của ta đây” phải là phương án thứ 3. Bạn sẽ không thể nào viết một bài luận thuyết phục về việc cải cách Luật hình sự với mỗi lập luận khoảng 6 đến 12 dòng. Sinh viên với “trí khôn của ta đây” sẽ nhận ra rằng phương án thứ ba với 3 gợi ý cải cách là khả dĩ nhất để gây ấn tượng với người chấm thi, đồng thời dùng hầu hết thời gian để củng cố 3 lập luận của mình.

Trên đây là 12 phẩm chất mà bất cứ người học Luật nào cũng cần có để trở nên thành công trong việc học, cũng như sự nghiệp sau này. Bạn có thể tự hỏi rằng “tại sao những người giỏi Luật lại đặc biệt?”. Đó là vì họ có, và luôn sẵn sàng làm cho mình có một tổ hợp những kỹ năng và khả năng nhờ cả bản năng tự nhiên và sự rèn luyện mỗi ngày.

Doan Nguyen

Bài viết được dịch từ “Bức thư số 04: 12 phẩm chất sinh viên Luật nên (phải) có” (But is law the right subject for me?) trong cuốn sách “Những bức thư gửi một sinh viên Luật: Cẩm nang học luật tại trường đại học” của Giáo sư Nicholas L. McBride, tái bản lần thứ tư năm 2018, nhà xuất bản Pearson, Vương Quốc Anh.

Bốn Lý Do Nên Học Luật

Giả sử rất nhiều trong số các bạn tân sinh viên Luật, vừa đang rất hào hứng nhưng lại cũng đang khá hoang mang sau những bài học về Pháp Luật đầu tiên, nên lên facebook rủ nhau gửi thư cho một giáo sư Luật hàng đầu Vương Quốc Anh, hỏi rằng “Học luật ích lợi gì”? Sau đây là 04 lý do mà vị giáo sư này cho rằng các bạn nên học Luật:

Lý do thứ 01 (Brain training): Học luật làm não bạn “nhăn” nếu đang “phẳng”, và “nhăn nhúm” nếu đang “nhăn” sẵn. Nếu có đứa nào tự nhiên đến khoác vai hỏi “ê, mày học gì”, xong bạn cười nhẹ một cái nói “Tao học Luật”, khả năng rất thấp đứa đó sẽ nghĩ bạn sở hữu “não cá vàng”.

Học Luật giúp định hình một lối suy nghĩ cẩn trọng, sáng tạo và hợp lý (carefully, imaginatively, and sensibly).

Có rất nhiều học sinh khi đối mặt với một số tình huống chứa đựng một vài yếu tố pháp lý cần được xác định thì đều trả lời theo bản năng và cảm xúc, chứ không thể hiện một khả năng suy nghĩ thông não và thấu đáo. Vậy nên, nếu bạn chưa định hình cho bản thân một lối suy nghĩ như vậy, thì trường Luật là cái lò đúng nghĩa để đốt lên những ngọn lửa đó.

Thử xem xét ví dụ này:

  • Giả định: Pháp Luật Việt Nam quy định rằng “Một người sẽ được xác định là phạm tội Giết Người, nếu hành động của người đó gây ra sự chết cho người khác, và hành động đó biểu hiện rõ sự cố ý gây ra cái chết mà không có bất cứ ngoại lệ hợp pháp (no lawful justification) hoặc biện minh hợp lý nào (excuse) cho hành động” (Đây chỉ là giả định trong sách mà người dịch đưa vào bối cảnh Pháp Luật Việt Nam cho gần gũi – Điều 123 BLHS Việt Nam 2015 không quy định khái niệm Tội Giết Người).
  • Sự việc: T là một tên khủng bố có tiếng đẹp trai, đã bắt cóc vợ và hai con của D và đe dọa sẽ giết cả 3 nếu D không giúp T chuyển một gói hàng chứa bom đến cho V – Đại sứ ở Đại sứ quán. D đã chuyển gói hàng. V nhận và mở gói hàng… Bùm…(một cây nấm màu đỏ hiện lên) V chết trong tình trạng thi thể tan nát.

Các bạn tân sinh viên Luật nghĩ thế nào?

Nếu bạn đã thông não một cách cẩn trọng và thấu đáo, bạn đã nhận ra ngay trong khái niệm về Tội Giết Người 03 yếu tố cần phải được thỏa mãn thì tội phạm mới hình thành:

  1. Hành động (chuyển gói hàng) của D gây ra cái chết cho V;
  2. D đã hành động với sự cố ý muốn làm V chết;
  3. D không có bất cứ ngoại lệ hợp pháp, hay biện minh hợp lý nào.

Xem xét lần lượt các yếu tố này thấy rằng:

(1) Rõ ràng hành động của D đã gây ra cái chết của V (nếu D không chuyển gói hàng V đã vẫn chả sống nhe răng); 

(2) Nhưng có phải D đã cố ý giết V khi D vận chuyển gói hàng? Điểm này hơi khó thông não nên có thể nhiều tân sinh viên Luật sẽ mắc sai lầm. Một số bạn sinh viên sẽ nói rằng “Nếu D đã biết gói hàng là bom thì D cố ý giết V, vì một đứa não không quá phẳng cũng tưởng tượng ra V sẽ bay xác khi mở gói hàng mà D chuyển đến (khả năng nhìn thấy trước việc sẽ xảy ra theo tư duy logic thông thường)”. Chầm chậm một chút. Liệu rằng chúng ta luôn luôn có thể thấy trước điều gì sẽ xảy ra như là kết quả tất yếu của hành động mà chúng ta làm? Tại sao chúng ta  có hai cụm từ khác nhau là “cố ý” và “có thể” (dự đoán không chắc chắn về khả năng xảy ra)?

Để kiểm tra mệnh đề này chúng ta phải động não tưởng tượng một chút. Giả sử tôi đã tưởng tượng trước rằng việc viết ba cái thứ lằng bà nhằng này đến các bạn tân sinh viên Luật sẽ khiến tôi mệt (chém gió đương nhiên mệt – thinking is hard work), nhưng điều đó không có nghĩa là tôi cố ý làm tôi mệt khi viết mấy cái này. Cố ý gây ra điều gì đó hoàn toàn khác với việc nhìn thấy trước điều gì có thể xảy ra. Khi bạn cố ý thì bạn cố hết sức để làm điều bạn muốn xảy ra. Trong trường hợp này D không cố để giết V, D chỉ cố để giao gói hàng 

(Có thể bạn nghĩ rằng D đã biết trước việc chuyển gói hàng có bom cho V là V sẽ chết tan xác, nhưng thực tế là vẫn có những khả năng (dù nhỏ đến 0.01%) khác đi thì kết quả sẽ thay đổi. Giả sử khi D chuyển gói hàng cho V, V nhìn qua nghĩ là của bạn gái cũ nên cho cô quét rác. Kết quả là cô quét rác mang về nhà và nổ banh xác tại nhà. Trong trường hợp này các bạn tân sinh viên Luật không thể gắn cho D Tội Giết người đối với cái chết của cô quét rác – Bình luận thêm của người dịch).

Thử xem một tình huống khá tương tự: Vẫn là T – một anh khủng bố khá đẹp trai cao to, lần này vẫn chọn vợ và hai con của D để bắt cóc (vì lần 1 D hoàn thành nhiệm vụ khá ok và thoát được trách nhiệm hình sự vì không cố ý giết V) và đe dọa sẽ giết cả ba người nếu D không giết bạn thân của mình là V – một nhà chính trị cỡ bự trên trung ương. D giết V.

Trong trường hợp này xác định rằng:

(1) Hành động của D gây ra cái chết cho V;

(2) D hành động cố ý để V chết;

(3) Tội phạm Giết Người đối với D sẽ thành lập nếu D không có bất cứ ngoại lệ hợp pháp, hoặc biện minh hợp lý nào.

Ở đoạn này lại có rất nhiều các bạn sinh viên Luật dễ bị tắc não vì để bản năng và cảm xúc chèn lấn khi lập luận rằng: Well, D có ngoại lệ hợp pháp hoặc sự biện minh hợp lý vì nếu D không giết V thì vợ con D đã đang hành lý lên thiên đàng. Một mạng đổi ba mạng cũng coi như kết thúc có hậu.

Đè cảm xúc xuống một chút thì các bạn sinh viên sẽ thấy rằng khái niệm Tội Giết Người đề cập đến người phạm tội phải không có ngoại lệ hợp pháp, hoặc biện minh hợp lý – hai cụm từ hoàn toàn khác nhau, hiển nhiên ý nghĩa và giá trị định tội cũng khác nhau.

Ngoại trừ hợp pháp, khi bạn lập luận hành động của ai đó là hợp pháp, điều đó khẳng định người đó đã làm đúng trong những trường hợp xác định (thường là các trường hợp bất khả kháng, hoặc phòng vệ chính đáng như trong quy định của pháp luật Việt Nam).

Biện minh hợp lý, tức là bạn làm điều sai trái, nhưng dựa trên sự hợp lý mà phần đông có thể thông cảm được, hoặc dựa trên niềm tin của bạn trong hoàn cảnh đó, hoàn cảnh mà rất khó xác định rõ ràng các yếu tố hành động (Đây là khái niệm pháp lý không được quy định rõ ràng trong pháp luật Việt Nam hiện nay. Những hành động rơi vào vùng khái niệm này có lẽ được xem xét ở các quy định về “Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự” khi định khung hình phạt, chứ không được sử dụng để xác định có hay không việc phạm tội – chú thích thêm của người dịch).

Ở yếu tố thứ ba này (1) D có thể lập luận rằng D không phạm tội vì hành động của D là đúng vì là ngoại trừ hợp pháp, or (2) D sẽ lập luận là D đã sai khi giết V, nhưng đó là vì trong trường hợp bị đe dọa của D thì có thể thông cảm được.

Về lập luận (1): Giết 1 cứu 3, liệu rằng bạn sẽ chấp nhận lập luận này? 

Tưởng tượng rằng bạn đang bạn đang bị một căn bệnh “rất là bệnh” hành hạ, đòi hỏi cơ thể bạn phải được thay toàn bộ máu, tay bác sĩ lại gợi ý là máu của ông X phòng bên hoàn toàn phù hợp, nhưng việc thay máu sẽ lấy hết toàn bộ máu của X, và kết quả là X sẽ chết. Giả sử X bị ép (bằng lý do nào đó) để hiến máu. Liệu rằng bạn có đồng ý được hiến máu trên mạng sống của người khác? Tôi nghĩ hầu hết mọi người đều nói “không”. Họ sẽ không muốn tồn tại trên cái chết của một người vô tội. Nếu điều này là đúng, (hay bạn thấy là đúng) thì khả năng cao là vợ và hai con của D cũng không muốn D bảo toàn mạng sống cho họ bằng việc giết V – dù V có là bạn thân hay không. Và nếu điều này lại đúng, thì khó để lập luận rằng D đã làm điều đúng khi giết V.

Về lập luận (2): Hành động của D là có thể tha thứ được? D có thể sẽ thấy dễ dàng hơn đối với lập luận này, khi khẳng định rằng trong trường hợp của anh ta, hành động như vậy là có thể hiểu được. Sẽ rất khó cho D, nếu không nói là hoàn toàn không thể để chống lại sự đe dọa của T và để T giết vợ con mình.

Những người khác nhau có quan điểm khác nhau về lập luận này. Đây cũng là suy nghĩ của Lord Hailsham khi ông phủ nhận ý nghĩ rằng, có thể mong đợi một người bình thường để đứng lên chống lại sự đe doạ. Để làm được điều đó đòi hỏi ở D một bản lĩnh anh hùng thực sự.

Nên nhớ rằng, ý của Lord Hailsham nêu trên chỉ đề cập đến trường hợp khi ai đó giết một người khác để cứu chính bản thân mình. Liệu rằng sự việc sẽ khác đi khi bạn giết ai đó để cứu những người yêu thương của mình?

Đây chỉ là một ví dụ trả lời câu hỏi “tại sao học Luật lại thúc đẩy khả năng thông não” (studying law encourages you to think straight).

Lý do thứ 02 (Rhetoric): Khả năng ăn nói lưu loát thuyết phục – Nói đến đâu đi sâu vào lòng người đến đó …

…  the first reason for studying law is that it helps sharpen your mind, the second reason is that it helps sharpen your tongue and pen as well..

… if you can not express yourself clearly, there is no room for you in the law… 

Nếu như lý do thứ nhất để học luật là giúp bạn rèn giũa khả năng tư duy, thì lý do thứ hai đó là, học luật sẽ giúp bạn thành thạo trong khả năng “lắt léo” cái lưỡi và ngòi bút của mình (Ý câu “lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”, nhưng nên được hiểu là khả năng nói và trình bày một cách thuyết phục hợp tình hợp lý, chứ không phải ý là “leo lẻo cái mồm đổi trắng thay đen).

Rhetoric là một từ cửa miệng mà các cụ nhà người ta (như các cụ ở Hy Lạp hay Ý) thường dùng ý nghĩa đến một nghệ thuật thuyết phục, lôi kéo người khác phải “gật gù ừ ừ phải phải” với một quan điểm/lập luận mà bạn nêu ra dựa trên sự trình bày (nói/viết) chặt chẽ, logic. Điều đáng tiếc là không phải trường đại học nào cũng dậy thứ nghệ thuật này, nhưng đáng mừng là trường Luật nào cũng (không cách này thì cách khác) truyền dạy các kỹ năng này.

Có một nguyên tắc sắt đá mang tính nền tảng mà giới luật sư hay thì thầm và coi như bài học vỡ lòng đầu tiên để truyền dạy trong nghề, đó là “nói cho dõng dạc rõ ràng không là chết” (Express yourself clearly or die). Vậy nên, nếu bạn không thể thể hiện lời nói, ý tưởng của bạn một cách rõ ràng, đừng dại dột mà bước chân vào cổng trường Luật, vì nơi đó không dành cho bạn.

Các Luật Sư dù là Luật Sư tư vấn Luật Sư tranh tụng tại tòa, hơn ai hết là những người “gặm nhấm” tính quan trọng của kỹ năng trình bày rõ ràng mạch lạc mỗi ngày. Tự mình nhắc nhở bản thân để mỗi ngày phải trau dồi, rèn luyện ăn nói cho “gãy góc” phải như bài học ngấm vào máu mỗi Luật Sư.

Tất cả những Thẩm Phán, những người mà phán quyết của họ vẫn được các nhà làm luật sử dụng để tham khảo cho các chính sách pháp luật nhằm định hình xã hội của chúng ta ngày nay đều là những bậc thầy trong nghệ thuật trình bày logic ý nghĩ của họ.

Đối với các điều luật cũng vậy. Bất cứ điều luật nào được quy định không rõ ràng sẽ sớm bị huỷ bỏ hoặc sửa đổi. Những điều luật như vậy thường gây nhiều khó khăn trong việc áp dụng luật, mà mỗi vụ việc liên quan đều phải tự lý giải “điều luật đó nói điều gì”. Và do đó, các điều luật này sẽ sớm đi vào quên lãng mà chỉ các bản án đã được thông qua sẽ được viện dẫn lại (Đây là đặc trưng của hệ thống pháp luật Anh – Mỹ  với việc sử dụng án lệ là nguồn luật áp dụng – chú thích người dịch).

Các nhà nghiên cứu luật cũng không có cách nào khác là phải theo đuổi môn nghệ thuật Rhetoric này. Một nhà nghiên cứu luật mà không thể khiến cho các đồng nghiệp của mình hiểu ý mà ông/bà ấy muốn nói gì, thì ông/bà ấy nên chấm dứt sự nghiệp bút nghiên ngay từ khi bắt đầu để đỡ tốn giấy mực.

Khi bắt đầu sự nghiệp học hành tại trường Luật, sinh viên luật sẽ được yêu cầu viết các bài tiểu luận. Trong đó, sinh viên phải trình bày rõ ràng lập luận của mình về một điều luật (ví dụ như tính hợp lý của quy định, hoặc sự bất hợp lý của điều luật đó), hay phải đề nghị điều luật đó nên được quy định, hoặc nên được sửa đổi như thế nào. Đối với các kỳ thi, thường với thời gian khoảng 40 phút, sinh viên Luật cần phải học và trau dồi các kỹ năng để trình bày được nhiều nhất những gì mình muốn nói với sự rõ ràng và mạch lạc nhất. Có một câu nói đùa rằng “Tôi đã viết bài luận này dài hơn bình thường vì tôi không có thời gian để làm nó ngắn hơn”. 

Cái sinh viên Luật cần không phải thời gian, mà là sự vận hành tối đa và logic của não bộ trong khoảng thời gian cho phép để đưa ra những lập luận rõ ràng. Trong tất cả những người lãnh nổi tiếng với tài ăn nói, từ Cicero, Henry Clay, Abraham Lincoln, hay ngày nay là Barack Obama đều là những Luật Sư trước khi trở thành những nhà hùng biện. Chẳng phải ngẫu nhiên mà bài phát biểu nổi tiếng nhất của Abraham Lincoln – “Gettysburg Address” chỉ có 272 từ, trong khi một vị giáo sư phát biểu trước đó chiếm sóng 2 tiếng đồng hồ.

Lý do thứ 03 (Politics): Học Luật là sự chuẩn bị thực tiễn cho hiểu biết chính trị, hay sự nghiệp chính trường

Đi học làm quan là tâm lý khá phổ biến ở Việt Nam, và học Luật có vẻ như được nhiều người nghĩ là con đường ngắn nhất để được ngồi vào ghế quan. Thử xem danh sách 15 tân Bí thư tỉnh/thành uỷ nhiệm kỳ 2020-2025 thì thấy có đến 5 người sở hữu bằng Cử nhân hoặc Thạc sĩ Luật. Điều này cho thấy, để bắt đầu một sự nghiệp chính trị, người ta có thể bắt đầu từ chạy xe ôm hoặc bán chổi đót, hoặc bất cứ ngành nghề nào khác, nhưng để tiến sâu và làm chủ chính trường, các chính khách nên chuẩn bị cho mình một văn bằng chứng nhận sự hiểu biết pháp luật. Tại sao lại như vậy?

McBride cho rằng học Luật giúp bạn hình thành khả năng nhận biết và nhận định về cuộc sống xung quanh, từ đó định hình quan điểm riêng của mình rằng xã hội thì nên được vận hành như thế nào. Từ việc có quan điểm riêng, người học Luật sẽ tham gia vào việc thiết kế xã hội, dù gián tiếp qua việc bỏ phiếu bầu, hay trực tiếp thông qua việc ứng cử vào các vị trí trong cơ quan nhà nước. Ví dụ: Bằng việc học Luật, người học Luật đã biết rằng mọi cá nhân phải được đối xử bình đẳng và được tự do trong hành động, miễn là không làm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khác hoặc của cộng đồng. Từ việc có sự hiểu biết như vậy, người học Luật có thể chọn biểu quyết “không đồng ý” với một đạo luật có nội dung trái với nguyên tắc này, trong trường hợp Quốc hội tổ chức trưng cầu dân ý. Cũng bằng sự hiểu biết đó về quyền bình đẳng, người học Luật – khi đã trở thành nhà làm Luật, sẽ không đề nghị một chính sách pháp luật nào làm hại đến quyền bình đẳng và tự do của mỗi cá nhân. Đó là cách mà xã hội được định hình và vận hành theo ý chí.

Sự khác biệt, hay lợi thế của người học Luật khi đi vào con đường chính trị so với người học chuyên ngành khác, như triết học, đó là người học Luật có cái nhìn thực tiễn. Ý chí của họ là ý chí rút ra từ thực tiễn, do đã được đào tạo để nhận biết điều gì sẽ khiến xã hội vận hành trơn tru, và điều gì thì không. Các nhà triết học nhìn xã hội được vận hành theo cách nó nên là (ước muốn), còn các nhà làm Luật đưa ra những điều luật phải dựa trên thực tại, và do đó, phải phù hợp với quy luật khách quan và thực tiễn. Nếu không, mục đích định hình trật tự xã hội của các quy định đó sẽ phản tác dụng, mọi thứ sẽ trở nên hỗn loạn và mất kiểm soát. Ví dụ: Người làm Luật đã biết rằng đảm bảo sự bình đẳng của mỗi cá nhân là một quyền con người đã được chứng minh trong lịch sử.  Vậy nếu một đạo luật được ban hành lại có quy định hạn chế quyền bình đẳng của một nhóm người nào đó trong xã hội, thì khả năng rất cao là bất mãn sẽ nảy sinh, và theo quy luật tự nhiên, có bất mãn sẽ có đấu tranh, cuối cùng sẽ là một sự bất ổn xã hội.

Lý do thứ 04 (Legal training): Học Luật là sự chuẩn bị tốt nhất để hành nghề Luật sư

McBride khẳng định điều này, và nếu ai phản đối thì họ sẽ lập luận kiểu như “học y không phải là con đường tốt nhất để trở thành bác sĩ”. Nhiều người nghĩ rằng, để hành nghề Luật sư thì phải dành linh hồn “làm quà” cho quỷ dữ (you have to sell your soul to become a lawyer), và người ta cho rằng Luật sư cũng thường bán rẻ lương tâm của mình để bảo vệ cho bất cứ bên nào, chỉ cần bên đó trả công hậu hĩnh nhất (Lawyers – it is suspected that – sell out their consciences and simply seek to represent whichever side in a dispute is willing to pay them the most for their services). Đây là lẽ thường, khi mà những người có khả năng lập luận thuyết phục cho bên yếu thế cũng dễ bị nghi ngờ. Giống như Socrates đã bị tử hình ở Athens năm 399 trước công nguyên, cũng một phần vì ông có sức mạnh để khiến bên yếu thế trở nên mạnh mẽ hơn. 

Thực ra, trở thành một Luật sư, về mặt đạo đức, cũng cao quí như trở thành bác sĩ hay nhà giáo. Bởi lẽ, một hệ thống pháp luật mà thiếu sự tồn tại của Luật sư thì sự hoạt động của nó cũng không khác một người qùe cụt, mà hệ thống pháp luật cũng quan trọng đối với xã hội không khác hệ thống y tế và hệ thống giáo dục để đời sống con người được đảm bảo tự do, ấm no, hạnh phúc và phát triển. 

Con người sẽ chỉ tự do, ấm no, hạnh phúc và phát triển dưới một hệ thống pháp luật được tạo ra dựa trên những giá trị nhân bản của con người và các giá trị tiến bộ của xã hội, cũng như dựa trên giá trị tối cao của pháp luật – Pháp quyền (rule of law). Với sức mạnh cao nhất trong xã hội, pháp luật sẽ phải giới hạn quyền lực nhà nước trong quan hệ với người dân, và giới hạn quyền tự do của mỗi cá nhân, làm sao để mỗi cá nhân đều được tự do mà không làm phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khác. Và tất cả những giới hạn đó, đều phải được quy định để dễ dàng giám sát một cách rộng rãi. Hiển nhiên, là những người đã được đào tạo về Luật pháp, giới Luật sư sẽ là lực lượng quan trọng nhất để đảm bảo pháp luật được giám sát và thực thi đúng như được quy định.

Có người sẽ lập luận rằng, hành nghề Luật sư chẳng có gì là cao quí khi mà Luật sư là những người “bảo kê” cho quỷ dữ. Họ hỏi rằng “làm thế nào mà Luật sư lại có thể bào chữa cho những người mà họ biết chắc là có tội”, hoặc “làm sao Luật sư có thể bảo vệ những công ty làm ô nhiễm môi trường, hoặc những công ty làm đủ mọi cách để trốn thuế …”, và những người đặt câu hỏi như vậy cho rằng công việc của Luật sư là đáng chê trách dựa trên tiêu chuẩn đạo đức. Tuy vậy, đây không phải là một nhận xét xác đáng, và Luật sư không đáng bị chê trách như vậy. Thực ra, hệ thống pháp luật sẽ không được coi là hoạt động chuẩn mực nếu bất cứ ai ở trong/hoặc bị dính vào một quan hệ pháp luật bị cản trở quyền có Luật sư. Bởi lẽ, trong một xã hội pháp quyền (pháp luật có quyền lực tối cao) nơi mọi cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật thì họ có quyền như nhau trong việc tiếp cận sự bảo vệ trước pháp luật. Và để đảm bảo mọi cá nhân, tổ chức đều bình đẳng trước pháp luật, Luật sư sẽ phải sẵn sàng đại diện cho bất cứ khách hàng nào và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ một cách tốt nhất.

Doan Nguyen

Bài viết được dịch từ “Bức thư số 02: Bốn lý do nên học Luật” trong cuốn sách “Những bức thư gửi một sinh viên Luật: Cẩm nang học luật tại trường đại học” của Giáo sư Nicholas L. McBride, tái bản lần thứ tư năm 2018, nhà xuất bản Pearson, Vương Quốc Anh.

Lưu ý: Bài dịch truyền tải hầu hết các ý chính của bức thư số 02. Tuy vậy, cách diễn dịch và một số ví dụ đã được thay đổi nhằm mang đến sự gần gũi và dễ hiểu hơn cho người đọc.

Phải chăng Chính phủ Việt Nam nợ người dân một lập trường trước Trung Quốc?

Có thể nhiều người Việt đang rất hân hoan trong niềm vui hy vọng khi biết rằng Hoa Kỳ đã thể hiện lập trường rõ ràng ở Biển Đông. Trong đó, Hoa Kỳ tuyên bố phủ nhận hầu hết các yêu sách cũng như lên án các hành động bá quyền của Trung Quốc trên vùng biển này, đồng thời thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ đối với các quốc gia chịu sự đe dọa trong khu vực. Hai ngày sau khi đưa ra bản Tuyên cáo này, Ngoại trưởng Hoa Kỳ – Mike Pompeo cũng đã khẳng định rằng Hoa Kỳ “sẽ sử dụng tất cả những biện pháp có thể để trợ giúp các quốc gia chịu sự xâm lấn của Trung Quốc”. Tất cả những động thái này, trùng hợp thay, lại được đưa ra đúng vào dịp Việt Nam và Hoa Kỳ đang hân hoan mừng kỷ niệm 25 năm bình thường hoá quan hệ ngoại giao với những thành tựu rực rỡ và tương lai hợp tác tươi sáng. Đối với người Việt, phần nào cho thấy sự nhiệt thành của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, ít nhất là trong việc hỗ trợ Việt Nam chống Trung Quốc bành trướng ở biển Đông. 

Dù không có ý định tạt một “gáo nước lạnh” vào “bầu không khí” vui tươi đó, người viết chỉ muốn đưa một góc nhìn cá nhân về giá trị của lập trường đối với Việt Nam; và về thời điểm tuyên cáo, trong sự soi chiếu đến đặc trưng cơ bản của quan hệ quốc tế. Rằng, tình hữu hảo, dù là dựa trên điều gì cũng vẫn chỉ là câu chuyện “đãi môi” trong lĩnh vực chính trị và quan hệ quốc tế, vấn đề cốt yếu là “với ai”, “khi nào”, và “lợi ích gì”.

Sự thiếu vắng một lập trường quốc gia trong việc “định nghĩa” Trung Quốc

Giả định rằng quốc gia Việt Nam đang ở trong một cuộc tranh đấu, còn gì đáng mừng hơn khi có ai đó tuyên bố ủng hộ chúng ta, nhưng chúng ta sẽ tranh thủ sự ủng hộ đó như thế nào khi cuộc tranh đấu của chúng ta lại thiếu vắng một lập trường nhất quán. Việc không có một lập trường, nhưng lại mừng vui trên lập trường của người khác không hẳn gây hại gì. Tuy vậy, điều đó sẽ phần nào thể hiện sự bị động và dễ bị lệ thuộc của chúng ta ngay trong cuộc chiến  – như là định mệnh của mình.

Đối với rất nhiều người Việt, hành động tuyên cáo lập trường cho thấy Hoa Kỳ đang có những bước đi mới, rõ ràng hơn, và nhiều “ánh sáng” hơn trong công cuộc “chống Trung”, và sẽ có thể có những ảnh hưởng tích cực nhất định đến phong trào “chống Cộng”. Điều này có thể đúng, nếu như Hoa Kỳ nhiệt tâm với các tuyên bố của mình để những cam kết không chỉ nằm trên giấy. 

Cứ cho rằng, lập trường của Hoa Kỳ là chắc chắn (nhiệt tâm thực hiện), thì việc chúng ta thiếu một lập trường nhất quán sẽ tận dụng được sự trợ giúp của Hoa Kỳ ra sao? 

Chúng ta không có một lập trường rõ ràng trong cách cư xử với người láng giềng phương Bắc. Điều này dẫn đến việc các đụng độ, va chạm làm hại ngư dân bám biển của ta vẫn xảy ra, nhưng lúc thì được miêu tả do “tàu lạ”, lúc lại do “tàu nước ngoài” (theo truyền thông trong nước). Sự thiếu minh bạch trong các sự kiện Trung Quốc đánh chiếm các đảo ngoài khơi của Việt Nam, cho đến các phát ngôn với giọng điệu thay đổi theo “thời tiết” của đại diện cơ quan ngoại giao.

Để minh định rõ hơn về sự thiếu vắng một lập trường như đang trình bày, người đọc có thể tham khảo bình luận đầu tiên của Bộ Ngoại giao Việt Nam về Tuyên cáo của Hoa Kỳ, do phát ngôn viên Lê Thị Thu Hằng nêu ra ngày 15 tháng 7 như được Báo Tuổi trẻ đưa tin ở đây. Và, hãy thử xem xét, bình luận này giống quan điểm của một nước ven biển đang bị xâm hại quyền và lợi ích nghiêm trọng, hay giống quan điểm của một quốc gia ở sa mạc Saharah hơn?

Việc không “định nghĩa”, hoặc thiếu sự rõ ràng trong các hành xử với Trung Quốc, cũng đồng nghĩa việc chúng ta đang không rõ ràng về lợi ích của chính mình. Một khi lợi ích bản thân cũng không xác định được thì có thể đứng trên căn cứ nào để tính đến chuyện bảo vệ. Và khi đó, dù một bên thứ ba nào đó sẵn sàng làm “bệ đỡ” thì chúng ta liệu có đủ khôn ngoan để đặt đôi chân của mình lên hay không? 

Đó là giả định cứ cho rằng Hoa Kỳ sẽ tận tâm với Tuyên cáo của mình, và Việt Nam, dù thiếu vắng một lập trường cố định, vẫn sẽ hưởng lợi kiểu “không bổ trong cũng bổ ngoài”. Nhưng giả định này chỉ có thời gian mới đưa ra câu trả lời, và chúng ta phải chờ đợi.

Có phải Trung Quốc mới hành xử kiểu “hổ báo cáo chồn” từ năm ngoái, hay Tòa trọng tài quốc tế mới ra phán quyết về vụ kiện của Philippines từ tháng trước?

Rõ ràng là những hành xử thô bạo nhằm thay đổi tình trạng tự nhiên của các thực thể biển, cùng những vi phạm trắng trợn pháp luật quốc tế của Trung Quốc không phải vừa mới xảy ra, và Vụ kiện của Philippines cũng đã có phán quyết từ năm 2016. Nhưng tại sao Hoa Kỳ đến nay mới đưa ra lập trường rõ ràng bác bỏ các tuyên bố và hành xử bất hợp pháp của Trung Quốc? Chẳng lẽ Mỹ cần đến hơn một thập kỷ để xác định, liệu rằng Trung Quốc có đang phá huỷ các giá trị của pháp luật và trật tự quốc tế mà Mỹ muốn, hoặc sẽ bảo vệ hay không?

Chắc chắn là không. Nếu Hoa Kỳ lấy việc bảo vệ các giá trị là trụ cột để duy trì an ninh, ổn định trật tự khu vực và quốc tế là sứ mệnh của mình thì họ, có lẽ, đã phải hành động ngay khi các giá trị đó bị xâm phạm. Nhất là trong trường hợp Philippines là đồng minh thân cận của Hoa Kỳ. 

Làm rõ những câu hỏi này có thể đưa đến một kết luận rằng, Tuyên bố về lập trường của Mĩ đối với các tuyên bố của Bắc Kinh ở biển Đông chỉ là một động thái cho thấy Hoa Kỳ sẽ có thái độ cứng rắn để bảo vệ lợi ích của mình. Trong bối cảnh Trung Quốc đã không còn “diễn” nữa, và Hoa Kỳ cũng không còn lựa chọn nào khác. Việc xuống nước của Hoa Kỳ trong tình trạng căng thẳng kéo dài như hiện nay sẽ cho thấy sự đánh mất (hoặc từ bỏ) vai trò lãnh đạo thế giới của mình. Khẩu hiệu bảo vệ pháp luật và trật tự quốc tế; an ninh, ổn định khu vực; và tự do an toàn hàng hải chỉ là “lý do” cho cái “mục đích” cạnh tranh lợi ích các nước lớn.

Chỉ ra như vậy không phải là để chê trách Hoa Kỳ (vốn dĩ các quan hệ quốc tế sẽ phải thay đổi xung quanh trục “lợi ích” như vậy), mà để thấy rằng, lợi ích của Hoa Kỳ hay bất cứ bên thứ ba nào có thể trùng khớp với mục tiêu của chúng ta ở một đoạn, một điểm nào đó. Nhưng để tận dụng được sự trùng khớp đó, chúng ta cần có chiến lược chủ động, rõ ràng.

Hoa Kỳ có phải “người lính gác” nhiệt thành của pháp luật và trật tự quốc tế?

Tạm giả định (theo quan điểm của những người chống Trung Quốc cực đoan) rằng, Trung Quốc là kẻ thù, còn Mỹ, không những là đồng minh chống Trung Quốc mà còn là “người hùng” bảo vệ các giá trị của pháp luật và trật tự quốc tế. Vậy, hãy xem kẻ thù nói gì về đồng minh của chúng ta, và liệu rằng những nhận định đó có phần nào là sự thật.

Theo thông tin được đưa tại trang facebook của Đại sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam, Bộ Ngoại giao Trung Quốc thông qua phát ngôn viên Triệu Lập Kiên đã đáp trả mạnh mẽ Tuyên cáo lập trường mới của Mỹ. Theo đó (lược trích): “Tuyên bố của Mỹ trái với cam kết công khai không giữ lập trường về chủ quyền Nam hải của Chính phủ Mỹ. Phía Trung Quốc không hề tìm kiếm xây dựng “Đế quốc biển”. Ngược lại, Mỹ từ chối gia nhập “Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển”, thường xuyên “rút khỏi các tổ chức quốc tế và huỷ cam kết” trên trường quốc tế. Đối với luật quốc tế, hợp thì sử dụng, không hợp thì bỏ”.

Người viết sẽ không phân tích vấn đề liệu rằng Mỹ đã có cam kết như vậy với Trung Quốc hay không. Vì, đây là vấn đề tranh cãi, cần bằng chứng để xác thực (cũng như hiện nay Trung Quốc cáo buộc Mỹ cố tình “bóp méo” phát biểu của Ngoại trưởng Trung Quốc tại Hội nghị Asean), và nó cũng là vấn đề của Mỹ, dựa trên lợi ích của Mỹ. Do đó, dù có chứng minh được là Mỹ đã có quan điểm như vậy thì cũng là điều bình thường trong quan hệ quốc tế.

Về vấn đề tuân thủ, tôn trọng pháp luật quốc tế thì sao? Đáng tiếc rằng, những khẳng định của phía Trung Quốc lại là sự thật, dù rằng đó không hẳn thể hiện bản chất của Chính phủ Mỹ, nhưng đó đúng là phần nào thái độ của Mỹ đối với hệ thống luật pháp quốc tế. Từ việc từ chối thực thi phán quyết của Tòa án quốc tế trong vụ kiện của Nicaragua, đã làm nên một ví dụ điển hình cho sự kém hiệu quả của các thiết chế quốc tế dưới sức mạnh của những cường quốc. Cho đến gần đây, là hàng loạt những hành động rút ra khỏi các hiệp ước quốc tế, hay các tổ chức quốc tế, như: Thỏa thuận hợp tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp ước Paris về khí hậu, Thỏa thuận hạt nhân với Iran, Tổ chức Văn hoá và giáo dục Liên hợp quốc, Uỷ ban nhân quyền Liên hợp quốc. Gần đây nhất, Hoa Kỳ đang tiến hành các thủ tục cần thiết để  rời khỏi Tổ chức Y tế thế giới, sau khi Tổng giám đốc tổ chức này từ chối từ chức theo đề nghị của Tổng thống Mỹ, Donald Trump. 

Mặc dù tồn tại một sự thật rằng, một số định chế quốc tế hiện nay đã tỏ ra không hiệu quả và cần phải được thay đổi. Nhưng, việc đơn phương rút ra khỏi các định chế đó cũng phần nào thể hiện sự thiếu tôn trọng của Mỹ đối với hệ thống pháp luật quốc tế hiện nay. Và đó cũng có thể được xem như biểu hiện của bá quyền nước lớn vậy.

Đối với các tập quán quan hệ quốc tế, rồi tình hữu hảo đồng minh. Người Việt, đặc biệt là người miền Nam trước năm 1975, liệu mấy ai không còn nhớ Hoa Kỳ đã “đi đêm” với Trung Quốc “trên lưng” Việt Nam Cộng Hoà để Trung Quốc chiếm Hoàng Sa như “cưỡi ngựa hái hoa” như thế nào. Người miền Bắc chắc cũng phong phanh đâu đó rằng “Trung Quốc chỉ giữ đảo hộ ta mà thôi”, nhưng sự thật thì họ đã giữ hộ bao lâu, và đang tuyên bố, hành động như thế nào.

Xin được nhấn mạnh rằng, chỉ ra những điều này không nhằm hạ thấp nỗ lực của Hoa Kỳ, hay quan hệ giữa Hoa Kỳ với Việt Nam. Nhưng để nhận ra rằng, bất cứ bên thứ ba nào cũng sẽ chỉ hành động dựa trên lợi ích của chính họ mà thôi, và họ không có bất cứ một nghĩa vụ bắt buộc nào đến sự an nguy của một quốc gia khác, trừ khi hệ thống pháp luật và chính trị quốc tế có sự thay đổi khác đi. Đó là thực tế. 

Điều mà những nước nhỏ, và đặc biệt như Việt Nam phải ở trong một vị thế địa chính trị nhạy cảm, cần phải có chính sách chiến lược và mục tiêu của riêng mình, để nhận ra và tranh thủ bất cứ thuận lợi nào mà các bên thứ ba mang đến trong lợi ích của họ. Bên cạnh đó, cũng cần phải khôn ngoan để không dễ dàng trở thành con “tốt thí” bởi bất cứ bên nào. 

Điều kiện nào để “lập trường” của Mỹ không phải chỉ là những tuyên cáo trên giấy đối với Việt Nam?

Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã được tái thiết và phát triển 25 năm, đã đạt được những đột phá quan trọng, từ kẻ thù trong chiến tranh đến nay đã hình thành quan hệ đối tác toàn diện. Đó là thành tựu quan trọng mang lại lợi ích to lớn, đặc biệt cho phía Việt Nam. Nhưng làm sao có thể đảm bảo sự nhiệt tâm của Mỹ trong “lập trường” của mình, đặc biệt đối với Việt Nam? Câu trả lời chỉ có thể đến từ sự phát triển trong quan hệ của người dân hai nước. Suy cho cùng, một quan hệ, dù là đối tác hay đồng minh đều cần phải dựa trên những giá trị bền vững thì các thoả thuận mới có thể được thực thi một cách thiện chí, và được đảm bảo lâu dài. Một quan hệ bền chặt sẽ không chỉ đến từ những thoả thuận của hai nhà nước, mà nó phải được sự đồng thuận và hiểu biết lẫn nhau, tôn trọng giá trị của nhau giữa người dân hai quốc gia. Chỉ khi người Mỹ đồng cảm với người Việt Nam, hay nhân dân các nước đang chịu đe dọa trực tiếp bởi Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á, thì khi đó, chính phủ Mỹ với tận tâm với những chính sách bên ngoài của mình, ngoài những tính toán về mặt lợi ích.

Hai mươi lăm năm, người Mỹ biết và nghĩ gì về người Việt, và ngược lại? Có lẽ là không nhiều, ngoài những quan hệ làm ăn kinh tế. Tuy vậy, đã có những chỉ dấu cho thấy hai nước có thể đẩy mạnh quan hệ đối tác hơn nữa, bằng việc triển khai các hoạt động xã hội như hàn gắn vết thương chiến tranh, hay các chương trình trao đổi, giao lưu về văn hoá, giáo dục, xã hội khác sẽ giúp người dân hai nước hiểu nhau hơn, là gốc rễ cho những giá trị bền vững hình thành. Một trong những dấu hiệu đó là việc hai nước đang đàm phán một thỏa thuận để Mỹ có thể, lần đầu tiên, gửi Peace Crops volunteers (Đội tình nguyện vì hòa bình) đến Việt Nam để thực hiện sứ mệnh gắn kết nhân dân hai nước – một hoạt động đòi hỏi sự tin tưởng, đặc biệt từ phía chính quyền Việt Nam.

Đứng trước bất cứ cơ hội nào để phát triển đất nước một cách tự chủ và độc lập, ai lại không thể vui mừng, nhưng hãy nên vui trên lập trường nhất quán của riêng mình. Cá nhân người viết chỉ thực sự vui khi đọc được những bản tuyên bố rõ ràng từ nhà nước của chúng ta. Trong đó, ngư dân Việt Nam không bao giờ bị “tàu lạ” đâm, và cũng không phải bị tấn công bởi “tàu nước ngoài” nào. Dựa  trên một chính sách nhất quán như vậy, thì những tuyên bố, dù chỉ là tuyên bố của bất cứ nước nào cũng sẽ có ý nghĩa nhất định đối với chúng ta. Còn không, dù bất cứ bên thứ ba nào, dù nỗ lực ủng hộ đến đâu, vấn đề Trung Quốc đối với người Việt Nam vẫn mãi là “lạ” và không thể rõ ràng. Chúng ta không biết chúng ta đang thoát và sẽ thoát Trung như thế nào, hoặc đang bị Trung Quốc kìm kẹp như thế nào. Và đặc biệt, chúng ta không rõ liệu rằng sự đe doạ dân tộc có đang bị lợi dụng để duy trì một ý (ảo) tưởng nào đó hay không.Continue reading “Phải chăng Chính phủ Việt Nam nợ người dân một lập trường trước Trung Quốc?”

Có đúng “mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng”: Xét từ góc nhìn với khối trường chuyên

Tiến sĩ Kinh tế Nguyễn Đức Thành đã khơi lên một làn sóng tranh luận sôi nổi hiếm thấy về giáo dục, từ một bài đăng Facebook của mình vào ngày 18/6/2020.

TS Thành, một cựu học sinh chuyên Lý trường Hà Nội – Amsterdam, nêu quan điểm rằng các trường chuyên công lập nên được thay đổi theo hướng tư nhân hoá, hoặc kết thúc vai trò “chuyên” của nó để đưa về hoạt động như những trường công khác. 

TS Thành đặt câu hỏi rằng, các trường chuyên công lập đang nhận được nguồn ngân sách lớn hơn gấp nhiều lần các trường công khác vì lý do gì, hay dựa trên nguyên tắc, chính sách nào. Ông đưa thêm một số lý do cổ súy cho việc thay đổi khối trường chuyên công lập bao gồm: 

  • Trường chuyên là mô hình lấy của người giàu chia cho người nghèo, và nếu tiếp tục nó sẽ tạo ra những bất công truyền thế hệ, rằng “con vua thì lại làm vua, sư sãi ở chùa vẫn quét lá đa”; 
  • Trường chuyên là nhu cầu xã hội, nhưng nó nên là mô hình trường tư như Olympia;
  • Tính “danh tiếng” và “đẳng cấp” của khối trường chuyên khiến cho khâu tuyển sinh trở thành cuộc đua không cân sức giữa học sinh thuộc gia đình giàu có với học sinh thuộc gia đình ở cấp bậc sau, khi mà, các gia đình giàu thường “chạy cùng con trên từng điểm số” với những bảng điểm toàn số 10, hoặc những giải thưởng chứng tỏ học sinh nhà giàu có năng khiếu; và cuối cùng 
  • Khối trường chuyên đã hết vai trò lịch sử, xét trong mục đích sản xuất ra những “con gà nòi” để đi thi đấu quốc tế nhằm thể hiện hình ảnh quốc gia. Ngay cả trong mục tiêu đào tạo nhân tài thì các trường chuyên cũng đã không thực hiện được yêu cầu này vì không tồn tại bất cứ ràng buộc nào giữa học sinh trường chuyên với nghĩa vụ phụng sự Tổ quốc sau này – điều này được TS Thành nêu ra ở một bài đăng khác trong nhóm “Thảo luận cải cách trường Ams và hệ thống trường chuyên lớp chọn Việt Nam” trên mạng xã hội Facebook). 

Cuộc thảo luận vẫn đang diễn ra với rất nhiều ý kiến, cả ủng hộ và phản đối đề xuất của TS Thành. Người viết nhận thấy rằng, các vấn đề được nêu lên từ cuộc thảo luận có ý nghĩa nhất định nhằm xác nhận lại, liệu rằng hệ thống giáo dục công của Việt Nam có đảm bảo những nguyên tắc và các quyền phổ quát về giáo dục hay không. 

Do vậy, bài viết này xem xét sự tồn tại của khối trường chuyên công lập trong vai trò của nhà nước đối với việc đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục, và đặc biệt là sự liên hệ đến nguyên tắc bình đẳng trong các cơ hội tiếp cận giáo dục (Equality of Educational Opportunity). 

Từ đó, người viết đánh giá những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực (nếu có) từ sự tồn tại của các trường chuyên trong mối quan hệ với những bất bình đẳng xã hội bắt nguồn từ sự khác biệt về nền tảng gia đình (social background inequalities relating to family) đối với học sinh và xã hội nói chung.

Giáo dục công nên như thế nào?

Nếu cần phải tìm một hệ thống giáo dục làm hình mẫu để học hỏi kinh nghiệm cho sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam, có lẽ Phần Lan – quốc gia được đánh giá có hệ thống giáo dục chất lượng hàng đầu thế giới, nên là sự cân nhắc đầu tiên. 

Hệ thống giáo dục của Phần Lan được xây dựng và vận hành dựa trên hai nguyên tắc nền tảng, bao gồm: (i) bình đẳng trong tiếp cận giáo dục là quyền hiến định, mọi cá nhân có cơ hội như nhau không quan trọng hoàn cảnh xuất thân như thế nào; (ii) sự tin tưởng và trách nhiệm. 

Tuy vậy, thành tựu của Phần Lan không phải chỉ dựa trên những nguyên tắc tồn tại như kim chỉ nam này, mà còn có động lực vận hành khác, đó chính là thái độ của nhà nước trong việc xác định vai trò, ý nghĩa của giáo dục đối với sự phát triển con người, xã hội, đất nước. Chính phủ Phần Lan nhận thức sâu sắc rằng, quyền được tiếp cận giáo dục là một quyền con người phổ quát, như đã được UNESCO ghi nhận, do đó đã nỗ lực để phân bổ nguồn lực quốc gia hợp lý cho một nền giáo dục gần như hoàn toàn miễn phí.

Thực tế lịch sử và nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng, vì ý nghĩa vô cùng quan trọng của giáo dục đối với mỗi cá nhân và xã hội nói chung, nhà nước phải là chủ thể lãnh nhận trách nhiệm đảm bảo cho mỗi cá nhân đều được tiếp cận các cơ hội giáo dục, và phải đảm bảo cho họ có có sự tiếp cận các cơ hội giáo dục một cách công bằng. 

Ở Úc, chính sách về giáo dục công đặc biệt quan tâm giải quyết bất bình đẳng xã hội, đặc biệt những bất bình đẳng có nguồn gốc từ sự khác biệt về nền tảng gia đình, xã hội. Tuyên bố Melbourne (Melbourne Declaration on Educational Goals for Young Australians) và Thỏa thuận quốc gia về giáo dục (National Education Agreement) được ký kết giữa chính quyền liên bang và các tiểu bang năm 2008, đã đặt ra các mục tiêu giáo dục cơ bản. Theo đó, chính quyền liên bang và các tiểu bang nhận thức và đồng ý rằng, đảm bảo cho mỗi cá nhân một sự khởi đầu tốt nhất có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với gia đình, xã hội và đất nước nói chung. Điều này đòi hỏi sự gắn kết của cả cộng đồng, bao gồm sự chia sẻ trách nhiệm của cả chính quyền liên bang và các tiểu bang. Hệ thống pháp luật của mỗi tiểu bang sẽ phải đảm bảo, không những sự công bằng về cơ hội tiếp cận giáo dục, mà còn phải tạo ra sự bình đẳng về thành quả giáo dục ở mức cao nhất có thể. Các chính sách giáo dục sẽ phải thúc đẩy sự hòa nhập xã hội của mỗi cá nhân, đặc biệt hướng đến các tầng lớp xã hội thấp, và rút ngắn khoảng cách về kết quả giáo dục giữa các giai tầng xã hội.

Từ hai ví dụ này, có thể rút ra kết luận rằng: 

  • Giáo dục công phải do nhà nước thực hiện (điều này không có nghĩa là không cho phép tồn tại giáo dục tư), bất kể nhìn từ chức năng nội tại của nhà nước hay tầm nhìn của nó đối với việc phát triển quốc gia như thế nào, nhưng nhà nước phải đảm bảo tính sẵn có đối với dịch vụ giáo dục cho mỗi cá nhân. Và, nhà nước thực hiện điều này thông qua chính sách giáo dục quốc gia và bằng ngân sách nhà nước.
  • Một chính sách giáo dục quốc gia phải đảm bảo thực thi các quyền con người phổ quát trong giáo dục, đặc biệt là sự bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội giáo dục nhằm hướng đến duy trì và phát triển sự công bằng xã hội.

Như thế nào là bình đẳng tiếp cận các cơ hội giáo dục để duy trì công bằng xã hội?

Trước khi trình bày như thế nào là bình đẳng tiếp cận các cơ hội giáo dục, người viết đồng ý với quan điểm rằng, con người sinh ra không bình đẳng. Bình đẳng chỉ là một giá trị mà con người nhận thức ra, xây dựng nên và đáng theo đuổi.

Giả định rằng:

[1] Trường Ams là một cơ hội để được thụ hưởng giáo dục chất lượng cao mà nhà nước cung cấp. Tất nhiên đây là cơ hội dành cho tất cả mọi cá nhân, nhưng không phải mọi cá nhân đều có thể trở thành học sinh của Ams. Bởi lẽ, đây là cơ hội có giới hạn do nhà nước không đủ nguồn lực để phân bổ hàng loạt. Điều này dẫn đến sự cạnh tranh và quá trình chọn lọc những cá nhân đạt yêu cầu tuyển sinh.

[2] Giả sử yêu cầu tuyển sinh của Ams là: (i) đánh giá kết quả kiểm tra đầu vào về kiến thức học thuật, tư duy logic, các kỹ năng mềm và năng khiếu, và (ii) kết quả học tập của các cấp độ học trước

[3] Được trở thành học sinh trường Ams là mục tiêu của rất nhiều học sinh, số lượng đăng ký vô cùng đông đảo, bao gồm các nhóm:

  • A: Những học sinh thuộc các gia đình giàu có và thường sống ở các thị trấn, thành phố lớn trên cả nước, thường cũng học chuyên từ cấp cơ sở và được bố mẹ cho đi học thêm, hoặc mời gia sư riêng về dạy tại nhà, hơn nữa còn được bổ trợ các môn năng khiếu như hội hoạ, ca nhạc… (tạm loại bỏ các yếu tố tiêu cực như “cùng con chạy điểm”);
  • B: Những học sinh thuộc các gia đình nghèo, hoặc có mức sống trung bình (thu nhập đủ chi trả cuộc sống hàng ngày), thường sống ở các vùng ngoại thành, thị trấn nhỏ, khu vực nông thôn, miền núi, và đương nhiên những học sinh này chỉ tham gia các lớp học tại trường.

Vậy, bao nhiêu phần trăm của nhóm A sẽ vượt qua thử thách tuyển sinh của Ams, và bao nhiêu phần trăm trong nhóm B? 

Nếu tính “điểm giỏi” trung bình của nhóm A là 9,5, còn nhóm B là 7,5, thì lý do nào dẫn đến sự khác nhau này? là do nhóm A sinh ra đã có những khả năng giỏi bẩm sinh hơn nhóm B, hay do nhóm B sinh ra trong các gia đình nghèo? Sự hỗ trợ của phụ huynh đối với con em họ có phải là một loại bất bình đẳng đối với học sinh khác hay không, và có phải là một loại bất bình đẳng mà nhà nước nên tìm cách giải quyết hay không?

Tiếp tục giả định rằng, phần lớn học sinh khối trường chuyên đều giỏi (không quan trọng do bản năng, nỗ lực tự thân hay nhờ sự hỗ trợ toàn diện từ phía phụ huynh) và đều thành đạt trong xã hội sau này, thì liệu rằng một chính sách tuyển sinh như của Ams, dưới một chính sách thiếu cơ chế loại bỏ bất bình đẳng, bất lợi đối với những học sinh yếu thế như vậy, có tạo nên, hoặc thúc đẩy các giá trị xã hội nền tảng cần có như tính trung thực, lòng bác ái và cảm nhận công lý hay không? 

Rõ ràng, bình đẳng sẽ không đương nhiên đảm bảo công bằng, nhưng một chính sách giáo dục hướng đến các giá trị công bình, văn minh thì bất bình đẳng chỉ nên xảy ra như những trường hợp hy hữu, ngoại lệ. Còn nếu, một chính sách tự nó đã chứa đựng sự bất bình đẳng thì chứng tỏ nhà nước thất bại trong nhiệm vụ cung cấp dịch vụ giáo dục công.

Bình đẳng về tiếp cận cơ hội giáo dục là gì?

Các học giả trong giới nghiên cứu đưa ra rất nhiều định nghĩa, khía cạnh và góc nhìn về bình đẳng cơ hội tiếp cận giáo dục (người đọc có thể tham khảo thêm các tài liệu nêu ở cuối bài). 

Trong giới hạn phạm vi bài viết này, người viết chỉ xin đưa ra góc nhìn (mà người viết cho rằng) khả dĩ nhất để trả lời những câu hỏi nêu trên, đó là góc nhìn từ sự công bằng (Fair Equality of Opportunity), mặc dù việc áp dụng góc nhìn này có phải là sự hợp lý nhất hay không cũng vẫn còn là một sự tranh cãi lớn trong giới học giả nghiên cứu. Tuy vậy, những tranh cãi kiểu vậy là điều thường thấy, và là bản chất của nghiên cứu triết học hay các vấn đề xã hội, và nó không ảnh hưởng đến việc lựa chọn ra những khía cạnh phù hợp nhất để áp dụng cho vấn đề đang được nêu ra.

Khái niệm công bằng về bình đẳng cơ hội tiếp cận được triết gia người Mỹ John Rawls (1921 – 2002) nêu ra trong tác phẩm A Theory of Justice (Một lý thuyết về công lý) xuất bản năm 1971, được cho là một góc nhìn khá cơ bản và toàn diện khi đánh giá về tính công bằng trong sự bình đẳng về các cơ hội tiếp cận giáo dục. 

Trong tác phẩm này, Rawls cho rằng “để đảm tất cả mọi cá nhân đều được đối xử một cách bình đẳng và được bình đẳng về cơ hội, thì, những đối tượng có ít nguồn lực hơn (fewer native assets) và những đối tượng được sinh ra trong hoàn cảnh khó khăn hơn (born into the less favorable social positions) phải được quan tâm nhiều hơn”. 

Cụ thể hơn, theo quan điểm của Rawls áp dụng vào lĩnh vực giáo dục thì, trong vai trò cung cấp dịch vụ giáo dục công dựa trên nguyên tắc công bằng, nhà nước phải có chính sách giải quyết những bất công có tính chất kinh tế – xã hội (inequalities in social luck), như sự phân hóa giàu-nghèo, để những cá nhân có nền tảng gia đình giàu – nghèo khác nhau nhưng có tiềm năng giống nhau thì được hưởng cơ hội phát triển như nhau. 

Tại sao người viết cho rằng, lý thuyết về sự công bằng của Rawls là khả dĩ nhất? Tại sao nhà nước phải giải quyết bất bình đẳng về nền tảng kinh tế xã hội (cũng là một loại bất bình đẳng tự nhiên), còn những bất bình đẳng tự nhiên khác (inequalities in natural luck) giữa cá nhân sinh ra đã giỏi và người kém hơn thì sao?

Suy cho cùng, giáo dục là để định hướng dẫn dắt mỗi cá nhân đi đến hoàn thiện con người cả về nhân cách và trí tuệ để họ có thể sống hạnh phúc, thành công, và có đóng góp giá trị đích thực cho xã hội. Điều này chỉ đạt được khi mọi cá nhân bước vào vạch xuất phát giống nhau, với những thử thách như nhau, thì các giá trị giáo dục mới được khai phá và mang lại hiệu quả.

Một gia đình giàu có và hạnh phúc, đó là thành công của bố mẹ, tức là vai trò của giáo dục đối với thế hệ bố mẹ (thế hệ F1) đã thành công và mang lại lợi ích cho họ, và xã hội. Nếu “giá trị thặng dư” (sự giàu có) của thế hệ F1 được đầu tư toàn bộ cho con cái (thế hệ F2) để những trẻ em này cũng thành công như/hoặc hơn bố mẹ chúng (thế hệ F1), và sau đó chúng lại tiếp tục đầu tư cho con cái đời sau (thế hệ F3) thì cái “giá trị thặng dư” của giáo dục chỉ phát triển một chiều, và thậm chí, những đầu tư như vậy còn kiềm chế các giá trị tự nhiên của giáo dục (đáng lẽ sẽ) xuất hiện trong mỗi đứa trẻ. 

Nhưng nếu thay vì chỉ đầu tư cho F2, thế hệ F1 dành ra một phần “giá trị thặng dư” của mình để trợ giúp cho những người kém may mắn trong xã hội, chẳng hạn như bạn bè của F2, thì câu chuyện lại rất khác. Hình thức trợ giúp có thể là đóng nhiều thuế hơn, đóng góp làm từ thiện, tham gia công tác xã hội, v.v. Từ đó, họ giúp con cái F2 của những người khác có được cơ hội phát triển bản thân bình đẳng với con mình. Khi mọi đứa trẻ đã được bình đẳng về cơ hội rồi, thì sự thành công trong đời của chúng phụ thuộc vào nỗ lực của mỗi đứa trẻ. Đây là lúc chúng ta có thể nói: “Sướng hay khổ là do mình”.

Đó chẳng phải chính là giá trị đích thực của giáo dục hay sao? Việc đầu tư vừa đủ tạo điều kiện cho con được phát triển tự nhiên sẽ đặt mọi đứa trẻ vào cùng vạch xuất phát, đó chẳng phải là nguyên tắc của mọi cuộc thi hay sao? Và đó chẳng phải là cách tốt nhất để con người phát hiện ra tố chất thật sự của bản thân hay sao? 

Quan trọng hơn, đây là điều mà con người có thể làm được nhờ nhận thức. Đối với những bất bình đẳng có tính chất tự nhiên (như trẻ em sinh ra đã có tài năng, hoặc tài năng trung bình, so với trẻ em yếu kém về trí tuệ) thì dù nhà nước có ưu tiên nguồn lực cho những người yếu hơn, thì cũng không thể chắc những đứa trẻ đó sẽ phát triển được như mong đợi. Đây là điều nằm ngoài khả năng nhận thức và tính hiệu quả.

Từ những điều đã trình bày, ta có thể kết luận rằng: 

  • Giá trị giáo dục chỉ được phát huy nhờ sự bình đẳng trong cơ hội tiếp cận dựa trên nguyên tắc công bằng;
  • Một chính sách pháp luật công bằng trong tiếp cận các cơ hội giáo dục phải đảm bảo cho mọi cá nhân có năng lực như nhau (có thể nhận diện được) có cơ hội đạt được mục tiêu giống nhau, bất kể sự khác biệt về nền tảng gia đình, kinh tế, xã hội; 
  • Nhà nước phải có chính sách giải quyết những bất công có thể nhận thấy và có nhiều khả năng thay đổi được.

Trường chuyên có làm gia tăng bất bình đẳng xã hội, hoặc các giá trị phản giáo dục?

Dù rằng đã nêu ra một lý thuyết về sự bình đẳng khả dĩ nhất để có thể gợi mở các giả định và câu hỏi được nêu ra, nhưng người viết cũng không thể đưa ra câu trả lời thỏa đáng cho mệnh đề trên. 

Điều này là bởi lẽ, đây không phải là vấn đề có thể nhận định dựa trên lý thuyết, mà nó đòi hỏi những nghiên cứu và khảo sát cụ thể để đi đến kết luận. Và nếu, dựa trên những quy định về chính sách và pháp luật của nhà nước đối với trường chuyên thì cũng khó để khẳng định, dù rằng, chính sách hiện tại không nhận biết và giải quyết sự bất bình đẳng về nền tảng gia đình, kinh tế, xã hội. Các quy định tại Luật Giáo dục năm 2019 mặc dù có các quy định về ưu tiên phân bổ ngân sách cho các khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo … nhưng không quy định rõ ràng về nguyên tắc bình đẳng trong tiếp cận cơ hội giáo dục.

Mệnh đề này được nêu ra, có lẽ, xuất phát từ tính “chìm” của tảng băng nổi – điều mà chúng ta khó nhìn thấy, nhưng lại có thể cảm nhận được dựa trên những sự thật rằng:

  • Hệ thống các trường chuyên đang tồn tại như một đặc quyền với nhiều ưu ái từ ngân sách nhà nước, và nó tồn tại như một niềm ao ước của nhiều học sinh, phụ huynh; 
  • Hình ảnh trường chuyên và học sinh trường chuyên được ngưỡng mộ trong xã hội khi nhận thức rằng đó là cái tổ của những học sinh giỏi (học chuyên là giỏi), có con học trường chuyên thường được coi là vinh dự của gia đình; 
  • Theo suy luận logic thì phần đông học sinh trường chuyên là con nhà khá giả trở lên do có điều kiện học thêm nhiều hơn, và do đó chứng tỏ được khả năng hơn (điều này có thể không chính xác, người đọc có thể liên hệ với những trường hợp xung quanh để tự nhận định); 
  • Hiện tượng mua điểm, chạy trường chuyên, lớp chọn cho con của cha mẹ đang tồn tại ở Việt Nam như một tệ nạn xã hội … Với những thực tế và suy luận logic thì một câu trả lời về sự “tha hoá chính sách” có thể được rút ra, và những bất bình đẳng, đương nhiên, cũng có thể từ đó mà xuất hiện.

Vẫn biết rằng, sự khác biệt về nền tảng gia đình đã sớm được nhận biết là một nguyên nhân tạo nên bất bình đẳng xã hội. Việc giải quyết trên thực tế vẫn là thách thức lớn, bởi lẽ, ai có thể cấm, hay khuyên phụ huynh hãy ít đầu tư cho con cái đi? 

Nếu có thể đưa ra một lời bình luận mang tính cá nhân, có lẽ tôi chỉ mong rằng, nếu ở đâu đó trong xã hội thực sự có chuyện mua điểm chạy trường, thì hy vọng các bậc phụ huynh hãy dừng lại điều đó. Hãy quan tâm, nhưng đừng sống hộ, hoặc sống ảo trên thành tích của trẻ em. Bởi lẽ, điều đó thật sự phản giáo dục, và nó thực sự huỷ hoại tất cả những gì tốt đẹp nhất mà hệ thống giáo dục, đặc biệt là khối trường chuyên (được cho là) đang tạo ra. Một đứa trẻ khi thấy bố mẹ chúng mua được sự dối trá, nó hoàn toàn có thể nghĩ bố mẹ chúng sẽ mua được cả xã hội.

Doan Nguyen 

Tài liệu tham khảo:

  • Equality of Educational Opportunity“, Stanford Encyclopedia of Philosophy.
  • Kristen Meyer, 2016, “Why should we demand equality of educational opportunity?”, Theory and Research in Education, Vol. 14, No. 3, p. 333-347.

Bài đã được đăng lần đầu tại Luật khoa tạp chí, ngày 02 tháng 7 năm 2020

Bộ Tứ Kim Cương: Hành trình từ 1.0 đến 2.0 dưới cái bóng của ‘con ngáo ộp’ Trung Quốc

Thế giới hiện nay chưa bước ra khỏi cuộc chiến chống Covid-19, nhưng những hệ quả và thách thức mà dịch bệnh này mang đến/phơi bày ra đã khá rõ ràng. Đó không chỉ là tình hình hoảng loạn và bất ổn về kinh tế – xã hội trong mỗi quốc gia, nhưng còn là bầu không khí ảm đạm cho tính ổn định toàn cầu – cái được gọi là Chiến tranh lạnh 2.0, đang dần định hình ngày càng rõ rệt hơn. Trong bối cảnh đó, đang tồn tại những quan điểm trong giới nghiên cứu chính trị và quan hệ quốc tế cho rằng, việc phát triển ý tưởng của QUAD (Quadrilateral Security Dialogue) – Bộ Tứ Kim Cương, sẽ mang đến nhiều triển vọng để đảm bảo một sự ổn định về hoà bình và an ninh, đặc biệt đối với khu vực châu Á – Ấn Độ, Thái Bình Dương.

Đối với Việt Nam, là một quốc gia có vị trí địa chính trị quan trọng trong khu vực, sẽ phải chịu tác động không nhỏ (dù mất hay được, dựa trên cách tiếp cận) nếu ý tưởng được hiện thức hoá thành một định chế khu vực.

Bài viết này không tham vọng việc phân tích các tiềm năng thành công của ý tưởng cũng như ảnh hưởng của nó đối với Việt Nam, nhưng được viết như một bài dịch tổng hợp, nhằm cung cấp cho người đọc một cái nhìn sơ lược về sự hình thành, quá trình phát triển của QUAD từ khi ra đời cho đến hiện tại, và dự đoán của các nhà nghiên cứu về triển vọng của nó trong tương lai. 

QUAD 1.0 – Nơi ý tưởng bắt đầu

QUAD – ở thời điểm đầu tiên, thuần tuý chỉ là sự nhóm lại giữa Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc và Ấn Độ như một ‘cách thức ngoại giao mới’ (new style of diplomacy) nhằm thiết lập một giải pháp hiệu quả trong quá trình thế giới chung tay xử lý hậu quả của đại thảm họa Sóng thần Ấn Độ Dương (Boxing Day Tsunami 26/12/2004). Trong sự hợp tác trợ giúp này, nhóm đã triển khai hơn 40.000 quân và nhân viên trợ giúp nhân đạo, làm việc 24/7 trong suốt chín ngày – đêm với tốc độ và kỹ năng cao nhất để trợ giúp các khu vực bị ảnh hưởng. Ý tưởng thành lập nhóm để mang lại sự trợ giúp tốt nhất, cũng như những thành công của nó trong việc đối mặt với thách thức từ thảm họa đã để lại những dấu ấn quan trọng của loại hình ngoại giao mới này, như là một phương tiện thiết yếu nhằm giải quyết những vấn đề trong khu vực.

Nhật Bản, ở mức độ nào đó, đã nhận ra tiềm năng và triển vọng của của ý tưởng đối với việc đảm bảo lợi ích của Nhật Bản nên đã lồng ghép vào chính sách ngoại giao của mình dưới tên gọi Mạng lưới Tự Do Thịnh Vượng (Arc of Freedom and Prosperity) được giới thiệu lần đầu tiên bởi Thủ tướng Shinzo Abe. Bộ trưởng ngoại giao Taro Aso, trong một bài nói ngày 30/11/2006 tại Viện quan hệ quốc tế Nhật Bản (JIIA), cũng mạnh mẽ thúc đẩy xây dựng mạng lưới với trọng tâm là vai trò của QUAD, nhưng sẽ mở rộng đến các quốc gia gần nhất từ Việt Nam, cho đến những quốc gia xa nhất ở châu Âu là Ukraine, đặt trọng tâm vào các giá trị nhân loại như dân chủ, tự do, nhân quyền, pháp chế và kinh tế thị trường.

Ý tưởng mới trong chính sách ngoại giao của Nhật đã ngay lập tức thu hút được sự ủng hộ của ba nước còn lại trong nhóm. Tháng 12/2006, Ấn và Nhật ra tuyên bố chung, khẳng định cả hai nước đều mong muốn thúc đẩy đối thoại giữa các quốc gia ‘cùng hội cùng thuyền’ (like-minded countries) trong khu vực để giải quyết các vấn đề về lợi ích chung. Hoa Kỳ và Úc đều có những động thái tích cực để thúc đẩy một cuộc gặp chính thức. Tháng 2/2007, sau khi tham vấn với Phó Tổng thống Hoa Kỳ Dick Cheney, Thủ tướng Úc John Howard đã có chuyến thăm đến Tokyo, cùng với Bộ trưởng ngoại giao Ấn Độ Pranab Mukherjee để tái xác nhận việc tổ chức hội nghị QUAD. Hai tháng sau đó, Thủ tướng Nhật Shinzo Abe đã có chuyến đi đến Washington và New Delhi để chốt các vấn đề cho cuộc gặp đầu tiên. Và, cuộc gặp đầu tiên – mang tính chất sự thành lập không chính thức (informal grouping), hay còn được gọi là QUAD 1.0, diễn ra một tháng sau chuyến đi của Thủ tướng Abe, tại Manila tháng 5/2007 trong khuôn khổ Diễn đàn khu vực ASEAN. Một số vấn đề về lợi ích chung của các quốc gia tham dự được đề cập, nhưng, mục đích cụ thể về sự thành lập và tồn tại của QUAD lại không được thỏa thuận rõ ràng. Hành động duy nhất và cuối cùng đại diện cho kết quả của QUAD 1.0 chỉ là chương trình tập trận Malabar với sự tham gia của Hải quân Singapore (là sự mở rộng chương trình tập trận giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ; Nhật Bản tham gia lần đầu tiên tháng 4/2007, và từ 2015 tham gia với tư cách thành viên chính thức).

Như vậy, QUAD 1.0 đã kết thúc gần như không có một tiếng động, nhưng lại quá nhiều sự lưỡng lự.

Cái bóng của ‘con ngáo ộp’ Trung Quốc và mười năm đi tìm mục đích

Sẽ là không quá lệch lạc so với thực tế khách quan khi nhận định rằng cả sự kết thúc của QUAD 1.0 và sự tái khởi động của QUAD 2.0 gần như đều được thúc đẩy bởi yếu tố Trung Quốc. Quan ngại về sự rạn nứt trong mối quan hệ song phương với Trung Quốc – dẫn đến những thiệt hại về lợi ích kinh tế, khiến mỗi quốc gia trong Bộ tứ đã dè rụt và lưỡng lự, để rồi bỏ rơi ý tưởng khi mới lọt lòng. Nhưng, cũng chính những đe dọa từ Trung Quốc trong khu vực (khoảng từ năm 2015) đã kéo Bộ tứ, một lần nữa, ngồi lại với nhau lâu dài hơn, và nói những chuyện cụ thể hơn.

Cái bóng của Trung Quốc

Ngay sau cuộc gặp đầu tiên tại Manila, Trung Quốc đã cực lực phản đối và liên tục đặt câu hỏi về mục đích của cuộc gặp, cũng như động cơ của mỗi nước. Việc không có được tuyên bố cụ thể về mục đích cho sự hình thành đã làm nảy sinh nhiều đồn đoán rằng ý tưởng của QUAD sẽ sớm trở thành NATO phiên bản châu Á, mà mục tiêu của nó chính là Trung Quốc. Đứng trước những nghi ngờ và yêu cầu từ Trung Quốc, Bộ tứ đã tỏ ra lúng túng, và đó cũng chính là thời gian kết thúc của QUAD 1.0, khi mà mỗi nước đều chọn bảo vệ lợi ích của mình thay vì nhận định, và đi đến sự đồng thuận về mối đe doạ chung trong khu vực. 

Trước áp lực từ Trung Quốc, cả bốn thành viên đều sớm phớt lờ tất cả những quan ngại về an ninh khu vực. Bộ trưởng Quốc phòng Úc Brendan Nelson, trong chuyến thăm tới New Delhi tháng 7/2007 đã tuyên bố rằng, ‘Úc mong muốn QUAD chỉ hoạt động trong phạm vi thương mại, văn hoá’. Nelson cũng nhấn mạnh điều này trong chuyến thăm đến Trung Quốc, rằng ‘Úc sẽ không làm bất cứ điều gì không cần thiết để gây tổn hại đến quốc gia khác’, và ‘đối thoại bốn bên với Ấn Độ – cái được gọi là Bộ tứ, không phải là cái mà Úc cổ vũ thực hiện; Úc có thể hứng thú việc hợp tác bốn bên, nhưng chỉ đối với các vấn đề kinh tế và gìn giữ hòa bình’. Về phía Ấn Độ, Thủ tướng Manmohan Singh khẳng định rằng ‘Bộ tứ sẽ không có bất cứ hoạt động an ninh nào’ (the Quad held no security implication). Ông cũng trả lời Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào rằng ‘Bộ tứ không phải được tập hợp để chống lại Bắc Kinh, mà chỉ đơn giản là cuộc gặp trao đổi quan điểm về sự phát triển trong kinh nghiệm của các nước dân chủ’ (the group wasn’t ganging up on China but simply meeting to exchange views on development from our experiences as democracies). 

Hàn Quốc cũng bày tỏ những lo ngại về ảnh hưởng tiêu cực của ý tưởng, và lưỡng lự trong việc tham gia. Mặc dù là đồng minh thân cận của Mỹ trong khu vực, nhưng Hàn Quốc cũng không muốn phải ở trong tình thế phải lựa chọn, hoặc từ bỏ đối tác thương mại ngày càng quan trọng là Trung Quốc.

Bên cạnh việc không tìm được tiếng nói chung trước bài toán lợi ích và đe dọa từ phía Trung Quốc, sự vận hành của guồng máy dân chủ trong mỗi quốc gia dẫn đến sự thay đổi người/phe lãnh đạo đã đặt dấu chấm hết cho QUAD 1.0. Trong đó, việc Thủ tướng Shinzo Abe, cha đẻ của ý tưởng và là người ủng hộ nhiều nhất, từ chức; cùng với việc Kevin Rudd, người có thái độ phê phán QUAD, lên làm Thủ tướng Úc là có ảnh hưởng lớn nhất. Chính phủ Úc dưới sự điều hành của Rudd, cuối năm 2007, đã quyết định rằng ‘QUAD không phù hợp với tầm nhìn chiến lược của Úc, và Úc sẽ không tham dự Hội nghị Bộ tứ vào tháng 1/2008, đồng thời thông báo cho Trung Quốc rằng Úc hoàn toàn không có ý định tham dự Hội nghị lần thứ 2 của QUAD. Về phía Ấn Độ, Thủ tướng Manmohan Singh cũng phải đối mặt với không ít thách thức, đặc biệt là các cuộc biểu tình chống lại chương trình diễn tập quân sự trên biển và những vấn đề nhạy cảm khác trong mối quan hệ với Trung Quốc. Phía Mỹ cũng hờ hững với ý tưởng trước những quan ngại trong mối quan hệ với Trung Quốc.

Còn tiếp …

Doan Nguyen

Nguồn tài liệu:

Patrick Gerard Buchan and Benjamin Rimland 2020 ‘Defining the Diamond: The Past, Present, and Future of the Quadrilateral Security Dialogue’, CSIS, 16 March 2020, online.

Tanvi Madan 2017 ‘The Rise, Fall, and Rebirth of the Quad’, War on the Rock, online.

Xét xử giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy Hải – Phải chăng pháp luật đã bị đánh tráo?

Những ngày này dư luận đang rất xôn xao và bất ngờ trước quyết định bác toàn bộ kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao từ Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (HĐTP) về vụ án Hồ Duy Hải (HDH) – vụ án bị nghi ngờ là có oan sai và nhiều vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Trong đó, Hội đồng gồm 17 thẩm phán đã biểu quyết đi đến một sự thống nhất tuyệt đối về bốn vấn đề:

(i) ‘Vụ án đã có những sai sót về tố tụng như đã nêu, những sai sót đó có làm thay đổi bản chất vụ án hay không?’

17/17 – ‘không thay đổi bản chất vụ án’

(ii) ‘bản án phúc thẩm và sơ thẩm kết án Hồ Duy Hải có đúng người, đúng tội, đúng mức án hay không?’

17/17 – ‘đúng người, đúng tội, đúng mức án’

(iii) ‘Quyết định số 639/QĐ-CTN ngày 17/5/2012 của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm án tử hình của Hồ Duy Hải đang có hiệu lực, như vậy, quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát có đúng pháp luật hay không?’

17/17 – ‘không đúng pháp luật’

(iv) ‘Hội đồng thẩm phán có chấp nhận kháng nghị, hủy hai bản án phúc thẩm và sơ thẩm, trả hồ sơ điều tra bổ sung, hay không chấp nhận kháng nghị?’

17/17 – ‘không chấp nhận kháng nghị’

Đối với tôi, tội phạm là một vấn đề không thể tránh khỏi của mọi xã hội, do đó, tôi không thật sự quan tâm ai là thủ phạm giết chết hai nạn nhân ở Bưu điện Cầu Voi, vì đó là việc của hệ thống tư pháp. Cái làm tôi quan tâm đó là vụ án này đã phải xét xử giám đốc thẩm – Phiên xét xử được mở ra nhờ nỗ lực vượt mọi sự mệt mỏi, đau buồn và những giọt nước mắt dòng dã chảy xuống suốt hơn 12 năm liền của một người mẹ đi gõ tất cả các cánh cửa công quyền để kêu oan cho đứa con trai – điều mà tôi cho rằng chính là giá trị của không chỉ công lý, mà còn là giá trị con người, một nguồn cảm hứng cổ vũ chúng ta luôn hướng đến sự thật, một giá trị mà nếu thiếu nó xã hội sẽ không còn sức sống. Do vậy, tôi cho rằng nếu HĐTP Tòa án nhân dân tối cao bác kháng nghị, thì đó phải là một phán quyết thuyết phục, hợp lý hợp tình, nhưng, tôi không thấy tính chất đó trong phán quyết của HĐTP.

Dù không phải là một chuyên gia pháp luật hình sự, sự hiểu biết pháp luật cũng chỉ ở mức cơ bản, nhưng tôi nhận thấy rằng phán quyết đã không có những câu trả lời thỏa đáng cho kháng nghị giám đốc thẩm. Và, ở mức độ nào đó, phán quyết còn thể hiện sự ‘rơi rớt’ kiến thức pháp luật nền tảng của hội đồng 17 thẩm phán toà án nhân dân tối cao. Với nhận thức đó, tôi sẽ chứng minh HĐTP không những không xem xét kháng nghị giám đốc thẩm dựa trên quy định của pháp luật, mà còn ‘máy móc’ trong giải thích việc áp dụng pháp luật. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, những phân tích dưới đây không phải là phát hiện mới mẻ gì của tôi, mà đã xuất hiện đâu đó trên báo chí và mạng xã hội từ nhận định của các chuyên gia. Điều tôi cố làm cho được có lẽ chỉ là ghép chúng lại thành một bức tranh toàn diện để người xem có thể tự mình nhận ra bản chất của nó, để tự hỏi bản thân họ, liệu rằng đã có sự đánh tráo pháp luật cho một cái gì đó na ná.

Vấn đề số 1: Có ‘sai sót’ về tố tụng, nhưng không làm thay đổi ‘bản chất vụ án’

Kết luận đầu tiên của HĐTP trả lời cho hai nhận định của Viện kiểm sát tối cao trong kháng nghị (1) ‘bản án sơ thẩm và phúc thẩm của tòa án hai cấp có nhiều nhận định và kết luận chưa phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; việc thu thập đánh giá các chứng cứ, tài liệu chưa đầy đủ; nhiều nội dung cần chứng minh của vụ án còn mâu thuẫn nhưng chưa được làm rõ’; và (2) các cơ quan tiến hành tố tụng có nhiều vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng như: bỏ sót chứng cứ vụ án, không trưng cầu giám định vết máu; không đưa một số lời khai của HDH và người làm chứng vào hồ sơ vụ án, dẫn đến sai lầm trong việc giải quyết vụ án’. Rõ ràng đã có sự khác biệt rất lớn trong việc sử dụng thuật ngữ pháp lý ở phán quyết và kháng nghị giám đốc thẩm. Viện kiểm sát tối cao cho rằng đã có những ‘vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng’, còn HĐTP lại cho rằng có những ‘sai sót’ (cụm từ tôi e rằng khó có thể định nghĩa được về mặt luật học). Vậy, nên chăng, chúng ta sẽ đặt một số câu hỏi xoay quanh vấn đề này, để xem xét từ căn cứ nào mà những ‘vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng’ nêu tại kháng nghị giám đốc thẩm lại trở thành ‘sai sót về tố tụng’, và sức mạnh của những ‘sai sót’ đó sẽ ảnh hưởng như nào đến ‘bản chất vụ án’:

Như thế nào là ‘sai sót’ về tố tụng?

Sai sót có phải là vi phạm pháp luật tố tụng không?

Giữa ‘sai sót’ và ‘vi phạm nghiêm trọng’ có gì khác nhau không?

Nếu có vi phạm pháp luật tố tụng thì hậu quả pháp ý của nó là gì?

Pháp luật có quy định vi phạm tố tụng nào có thể không có hậu quả pháp lý, và hoặc không cần phải chịu trách nhiệm pháp lý hay không?

Bản chất vụ án là gì?

Bằng cách nào có thể phát hiện sự thật của vụ án?

Tôi cho rằng ‘sai sót’ không phải là một thuật ngữ pháp lý, và như đã nói ở trên, sẽ khó có thể định nghĩa được về mặt luật học vì nó không tồn tại trong BLTTHS 2015 hay 2003, và tôi cũng nghi ngờ nếu nó đã/sẽ xuất hiện đâu đó trong các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTHS. Nhưng, tại sao HĐTP lại sử dụng cụm từ này? 

Tôi không biết. 

Cái tôi biết, từ khi còn ngồi trên ghế trường Luật, rằng, các quy phạm pháp luật hình thức ra đời nhằm để đảm bảo các quy phạm pháp luật nội dung được ban hành và thi hành chính xác như nó đã được thiết kế để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Thêm nữa, mọi vi phạm pháp luật đều có hậu quả pháp lý dù trong một số trường hợp trách nhiệm pháp lý có thể loại trừ. Tội tự hỏi, có phải do tôi ham chơi quá nên đã bỏ lỡ các bài giảng về những ‘sai sót’ của pháp luật, cái mà nếu xảy ra sẽ không có bất cứ hậu quả pháp lý nào như tôi đang được thấy trong phán quyết của HĐTP tòa án cấp cao nhất của đất nước.

Không giống như cụm từ ‘sai sót’, ‘bản chất vụ án’ là một thuật ngữ pháp lý, lần đầu tiên được quy định tại khoản 1 Điều 261 ‘Sửa chữa, bổ sung bản án’, và khoản 2 Điều 393 BLTTHS 2015 ‘Sửa chữa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật’. Căn cứ vào những quy định này của pháp luật tố tụng hình sự có thể định nghĩa bản chất vụ án là ‘kết luận của hội đồng xét xử khi nhận định về sự thật khách quan của hành vi phạm tội được ghi nhận tại bản án’. Nói một cách dễ hiểu hơn, bản chất vụ án là kết luận trong bản án do hội đồng xét xử thông qua, mà có thể không hoàn toàn, hoặc không phải là sự thật khách quan trong thực tế. Điều này là bởi lẽ, để có một bản án phản ánh chính xác sự thật khách quan thì nó đòi hỏi hội đồng xét xử phải xem xét hồ sơ vụ án một cách khách quan, toàn diện để thẩm định tính hợp pháp của hồ sơ vụ án đó (các vấn đề về trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ…). Từ một hồ sơ vụ án hợp pháp thì hội đồng xét xử mới có thể có những nhận định khách quan, toàn diện về hành vi phạm tội trong quá trình xét xử để đưa ra một bản án có bản chất đúng/đúng nhất với hành vi khách quan trên thực tế. 

Phân tích về thuật ngữ ‘bản chất vụ án’ để thấy rằng nếu không có một hồ sơ vụ án hợp pháp thì không thể/khả năng rất cao là không thể có một ‘bản chất vụ án’ phản ánh đúng sự thật khách quan. Ở đây, ‘bản chất vụ án’ được đề cập trong phán quyết của HĐTP chính là bản án sơ thẩm, phúc thẩm – đối tượng được cho là vi phạm nghiêm trọng nhiều thủ tục tố tụng và bị kháng nghị theo Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát tối cao. Vậy, nhận định của HĐTP cho rằng những ‘sai sót’ (vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm) nhưng không làm thay đổi ‘bản chất vụ án’ là đúng. Bởi lẽ, chính vì những ‘sai sót’ đó nên mới tồn tại một ‘bản chất vụ án’ như trong bản án sơ thẩm, phúc thẩm – cũng chính là các bản án chứa những nhận định và kết luận sai với thực tế khách quan do sử dụng một hồ sơ vụ án trái pháp luật với những vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục. Hay nói đơn giản hơn, ý của HĐTP giải thích qua kết luận số 1 rằng, ‘Viện kiểm sát tối cao cho rằng Bản án sơ thẩm và phúc thẩm đã có những nhận định và kết luận không đúng với thực tế khách quan do có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng là đúng, nhưng những sai sót đó cũng không ảnh hưởng đến các kết luận của hai bản án này’.

Vậy có đúng là những ‘sai sót’ (vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng) trong quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm không ảnh hưởng đến các kết luận trong hai bản án đó không? Đọc đến đây nếu bạn đã nắm được thông tin về vụ án như được nêu trong Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát tối cao, có lẽ bạn sẽ tự có câu trả lời cho mình. Nhưng nếu chưa, hãy xem những vi phạm đó dưới đây (chiếu theo BLTTHS năm 2003) có thể đưa đến một ‘bản chất vụ án’ (bản án) đúng với thực tế khách quan hay không.

Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, cụ thể.

  • Bỏ sót vật chứng do khám nghiệm hiện trường nhưng không thu giữ vật chứng quan trọng của vụ án gồm chiếc ghế, dao và cái thớt. Khám nghiệm hiện trường đã ghi nhận, chụp ảnh nhưng không thu giữ để truy nguyên. (Vi phạm khoản 1 Điều 75 BLTTHS ‘Vật chứng cần được thu thập kịp thời, đầy đủ, được mô tả đúng thực trạng vào biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án. Trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án thì phải chụp ảnh, có thể ghi hành để đưa vào hồ sơ vụ án’; và khoản 1, 3 Điều 150: ‘Khám nghiệm hiện trường nhằm phát hiện dấu vết của tội phạm, vật chứng và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa với vụ án; điều tra viên … thu lượm và xem xét tại chỗ dấu vết của tội phạm… ‘)
  • Không thu giữ dấu vết trên cơ thể để trưng cầu giám định xác định thời điểm chết của nạn nhân, mặc dù tại bản giám định pháp ý số 21/PY.08 ngày 17/1/2008 phần khám nghiệm tử thi ghi nhận ‘bụng…dạ dày có chứa thức ăn đã nhuyễn, lượng ít’. (Vi phạm khoản 1 Điều 152 ‘Điều tra viên xem xét thân thể … người bị hại … để phát hiện trên người họ dấu vết của tội phạm, hoặc các dấu vết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Trong trường hợp cần thiết thì Cơ quan điều tra trưng cầu giám định pháp y’; và khoản 1 Điều 155 ‘Khi có những vấn đề cần được xác định theo quy định tại khoản 3 Điều này (các trường hợp bắt buộc trưng cầu giám định) hoặc khi xét thấy cần thiết Cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định’)
  • Không trưng cầu giám định ngay dấu vết máu thu được khi khám nghiệm hiện trường. Bốn tháng sau ngày xảy ra vụ án (05/06/2008), Phân viện khoa học kỹ thuật hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh mới kết luận ‘mẫu dấu vết ghi thu ở ngoài cửa nhà tắm và trong nhà vệ sinh Bưu điện Cầu Voi là máu người, không xác định được nhóm máu do đã bị phân huỷ’. (Vi phạm khoản 2 Điều 75 ‘Vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn, không để mất mát, lẫn lộn, hư hỏng’)
  • Vi phạm các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự về tính chính xác, khách quan và toàn diện trong thực hành pháp luật tố tụng. Trong đó, lời khai đầu tiên của HDH không nhận tội và lời khai của một số nhân chứng khác không được đưa vào hồ sơ vụ án, mà chỉ có trong hồ sơ lưu trữ của cơ quan điều tra. Bên cạnh đó, nhân chứng đầu tiên phát hiện vụ án là anh Phùng Phụng Hiếu cũng không được lấy lời khai bởi cơ quan điều tra. Các đối tượng tình nghi là Nguyễn Văn Nghị và Nguyễn Mi Sol, và nhiều dấu vân tay tại hiện trường chưa xác định được của ai cũng chưa được điều tra làm rõ. (Vi phạm quy định về Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án tại Điều 10, các cơ quan tiến hành tố tụng ‘phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội’
  • Vi phạm quy định về biên bản trong các thủ tục nhận dạng, lấy lời khai, hỏi cung. Cụ thể: một số biên bản nhận dạng không có người chứng kiến; một số biện bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung có sửa chữa nhưng không có chữ ký xác nhận của người khai. (Khoản 1, 2 Điều 125 quy định ‘Khi tiến hành điều tra phải lập biên bản … người tham gia tố tụng và điều tra viên cùng ký tên vào biên bản’, ‘trường hợp người tham gia tố tụng từ chối ký vào biên bản, thì việc đó phải được ghi vào biên bản và nêu rõ lý do’)

Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình xét xử, cụ thể:

  • Sử dụng chứng cứ không được thu thập hợp pháp để làm căn cứ chứng minh tội phạm trong quá trình xét xử. Kháng nghị giám đốc thẩm nêu rằng, hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm xác định chiếc ghế, cái thớt và con dao là công cụ gây án, nhưng thực ra, chiếc ghế đó không liên quan đến vụ án (02 tháng sau khi vụ án xảy ra  cơ quan điều tra thu giữ một chiếc ghế inox Hòa Phát mã số HPM2-44705, khác với mã số chiếc ghế trong bản ảnh – HPM2-447052, và khác với mã số ghi nhận trong biên bản khám nghiệm hiện trường – HPN2-447052). Còn về con dao và cái thớt, (do đã không được thu thập ngay lập tức khi khám nghiệm hiện trường) điều tra viên đã vẽ con dao và đưa cho một người (Nguyễn Văn Thu – tham gia dọn dẹp hiện trường) đi mua về cho HDH nhận dạng; cái thớt mà cơ quan điều tra thu giữ do Lê Thị Thu Hiếu (bạn của hai nạn nhân) mua ngày 24/06/2008 (khoảng 160 ngày sau ngày xảy ra vụ án) về cho HDH nhận dạng. Con dao và cái thớt (như nhận định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao) là hai vật chứng quan trọng, trong đó cái thớt là vật dính máu – theo bản ảnh chụp lại (mang dấu vết tội phạm) nhưng đã không được thu giữ, mà bị thiêu hủy ngay sau khi khám nghiệm hiện trường, lưỡi dao bằng kim loại cũng không thể tìm lại được. (Vi phạm khoản 1 Điều 64 về Chứng cứ, theo đó  chứng cứ phải ‘là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định…’). 
  • Nhận định và kết luận vụ án không dựa trên thực tế và chứng cứ khách quan. Bản án sơ – phúc thẩm xác định HDH dùng ghế đập vào đầu nạn nhân Vân trên tại phòng khách rồi dùng tay kéo Vân đến cạnh nạn nhân Hồng (ở ở chân cầu thang gần phòng bếp), đặt đầu Vân lên bụng Hồng và cắt cổ. Tuy nhiên, theo bản ảnh chụp biên bản khám nghiệm hiện trường cho thấy ‘chiếc ghế nằm dưới nền nhà ngay sát cửa đi ra nhà tắm và nạn nhân Vân gác chân lên chiếc ghế’. Thêm nữa, ‘trên mặt nệm ghế có dấu vết máu quệt, dấu vết đế dép và dính những hạt cơm nhỏ’ nhưng đã không được điều tra làm rõ. Mặc nhiên, bản án sơ – phúc thẩm cũng không lý giải về sự mâu thuẫn này. 

Tiếp theo là vấn đề thời điểm HDH xuất hiện tại Bưu điện Cầu Voi, bản án xác định Hải đến hiện trường lúc 19:30 là trái với lời khai của các nhân chứng. Nhân chứng Bình xác nhận anh đến gửi xe tại bưu điện lúc hơn 19 giờ đã có một thanh niên ngồi trong đó, và khoảng 19:30 anh quay lại lấy xe vẫn thấy thanh niên này. Nhân chứng Đinh Vũ Thường cho biết khi anh đến bưu điện gọi điện lúc 19:39 cũng thấy một thanh niên ngồi trong bưu điện. Nhưng người đó không thể là Hài, vì theo kết luận điều tra, lúc 19:13 Hải còn ở tiệm cầm đó, làm thủ tục cầm đồ, về nhà cất xe rồi đổi xe, đi gặp Đang ở quán Bảy Thanh, sau đó chở Đang đến quán Hai Thượng. Tổng khoảng thời gian từ khi cầm đồ đến khi chia tay Đang, Hải tiêu thụ khoảng 28 phút. Dù đoạn đường từ Hai Thượng đến Bưu điện Cầu Voi đi mất bao nhiêu thời gian thì Hải cũng không thể có mặt ở đó lúc 19:39.

Bản án phúc thẩm kết luận sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Hải trèo cổng sau để đi ra cổng trước. Tuy nhiên, biên bản khám nghiệm hiện trường không ghi nhận bất kỳ dấu vết máu nào dính lại trên cổng, trong khi bản án đã nhận định lúc cắt cổ các nạn nhân máu bắn rất nhiều lên người bị cáo. Hiện trường vụ án phản ánh qua ảnh và biên bản khám nghiệm hiện trường cho thấy rất nhiều hành động, nạn nhân chống trả quyết liệt và có nhiều đồ vật rơi đổ, xáo trộn, nhưng bản án lại mô tả hành vi tấn công của bị cáo là ‘đơn giản, ít hành động’.

  • Vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự về xác định sự thật của vụ án, và các quy định về trách nhiệm kiểm tra, thẩm định chứng cứ tại toà, dẫn đến nhiều nội dung cần chứng minh của vụ án còn mâu thuẫn không được làm rõ. Cụ thể là các mâu thuẫn về hành vi tấn công nạn nhân, mâu thuẫn về thời gian sau khi gây án, hay mâu thuẫn về hành vi hiếp dâm. Không những không thể chứng minh được lời khai của Hải theo thực tế khách quan và khám nghiệm hiện trường, như việc làm rõ địa điểm tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có (các nhân chứng làm việc tại cửa hàng di động và cửa hàng vàng, như được nêu trong bản án, đều không xác định được đã mua điện thoại và số nữ trang), tòa án hai cấp sơ – phúc thẩm còn bỏ qua các chứng cứ ngoại phạm khác của HDH, như: không có nhân chứng nào khẳng định Hải có mặt tại hiện trường; các dấu vân tay thu được ở hiện trường không phải của Hải theo kết quả giám định; các mẫu tro (được thu giữ khi khám nhà, và trước khi lấy lời khai đầu tiên của Hải) không có giá trị chứng minh, vì kết luận giám định cho thấy kết quả không giống lời khai của Hải.

Mặc dù HĐTP đã có những giải thích cụ thể về những nghi vấn trong kháng nghị của Viện kiểm sát tối cao. Tuy vậy, những giải thích này thuần tuý dựa vào sự đối chiếu những chứng cứ là các lời khai (ở mức độ nào đó sẽ mang tính chủ quan của người làm chứng do đó mức độ tin cậy không cao bằng các chứng cứ là vật chứng), chứ không có bất cứ vật chứng là công cụ, dấu vết tội phạm nào được sử dụng. Ngay cả việc sử dụng chứng cứ là các lời khai, thì các lời khai này cũng không thể hiện một kết luận chắc chắn xác định HDH là người thực hiện tội phạm.

Có thể nào một bản án được thông qua bởi một hồ sơ vụ án với những vật chứng được thu thập trái pháp luật, quá nhiều vật chứng bị bỏ sót một cách khó hiểu dẫn đến không có vật chứng nào được sử dụng hợp pháp; các dấu vết tội phạm không được trưng cầu giám định kịp thời để cho kết quả chính xác; một số trưng cầu giám định lại cho kết quả không phù hợp với nhận dạng của bị cáo; hàng loạt các mâu thuẫn về lời khai; hàng loạt những vi phạm về thủ tục biên bản …, và chưa hết, không có bất cứ lời khai nào khẳng định chắc chắn sự có mặt của Hải ở hiện trường … có thể nào bản án đó lại có một ‘bản chất’ (kết luận của hội đồng xét xử) phản ánh đúng thực tế sự thật khách quan hay không?

Vấn đề số 3: Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao không đúng pháp luật do Quyết định số 639/QĐ-CTN ngày 17/5/2012 của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm án tử hình của Hồ Duy Hải đang có hiệu lực

Cá nhân tôi cho rằng đây là một kết luận có tính chất gây cười đối với giới học luật, đặc biệt là giới chuyên gia trong ngành. Nó không chỉ thể hiện sự máy móc của HĐTP trong việc giải thích pháp luật tố tụng hình sự về các quy định trong vấn đề này, mà nguy hiểm hơn, kết luận này sẽ tạo ra tiền lệ có khả năng thay đổi các nguyên tắc cơ bản của áp dụng pháp luật, không chỉ trong lĩnh vực tố tụng hình sự.

Tôi tin rằng HĐTP vẫn hiểu những kiến thức pháp luật nền tảng khi đọc kết luận rằng ‘Pháp luật tố tụng hình sự quy định, các quyết định tố tụng hình sự chỉ được thay thế, huỷ bỏ bằng một quyết định tố tụng hình sự khác của cấp có thẩm quyền, chứ không thể thay thế bằng một văn bản hành chính’. Nhưng tôi lại nghi ngờ niềm tin của mình đối với HĐTP khi đọc đoạn tiếp theo, rằng ‘Quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm án tử hình của HDH đang có hiệu lực thi hành nhưng Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao lại có quyết định kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án hình sự sơ thẩm và Bản án hình sự phúc thẩm là vi phạm pháp luật tố tụng hình sự, không đúng thẩm quyền, không đúng với nội dung thông báo của Chủ tịch nước ‘bảo đảm đúng quy định pháp luật’ tại Công văn nói trên’.

Rõ ràng HĐTP muốn giải thích rằng Công văn thông báo của Chủ tịch nước không có giá trị hiệu lực gì trong các thủ tục tố tụng, nhưng lại dùng chính Công văn này để làm một trong các yếu tố chứng minh Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát tối cao là trái quy định pháp luật. Nhưng đây chỉ là một sự ‘máy móc’ nhẹ, không có ảnh hưởng gì nghiêm trọng đến pháp luật tố tụng bây giờ và sau này. 

Điều nguy hiểm nhất của kết luận này đó chính là HĐTP đã tuyên bố Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát tối cao là không đúng thẩm quyền và vi phạm pháp luật tố tụng hình sự. Lý do là bởi Viện kiểm sát tối cao đã ban hành Quyết định kháng nghị này sau khi đã ban hành một Quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm trước đó, và sau khi Chủ tịch nước đã có Quyết định bác đơn xin ân giảm án tử hình của HDH. Một lý do khác được HĐTP nêu ra, đó là ‘BLTTHS không quy định về thủ tục tố tụng trong trường hợp Chủ tịch nước đã có quyết định bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình, nên các cơ quan tố tụng không được phép thực hiện các hành vi tố tụng khác, trừ các quyết định về thi hành án’.

Kết luận này có thể thay đổi pháp luật và thay đổi việc áp dụng pháp luật từ đây về sau. Điều này là bởi lẽ:

Nộp đơn lên Chủ tịch nước xin ân giảm hình phạt tử hình sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật mà người phạm tội không yêu cầu kháng nghị giám đốc thẩm là một ‘quyền’ có tính chất nhân đạo mà nhà nước dành cho người phạm tội, dựa trên những tình tiết có thể được cân nhắc. Và, bằng việc chấp nhận giảm án hay không giảm án của Chủ tịch nước với những giải thích cụ thể sẽ làm thúc đẩy và phát huy những giá trị xã hội, giá trị con người. Giả sử (chỉ là GIẢ SỬ), trong trường hợp vụ án này, Hải được chứng minh có tội theo đúng quy định của pháp luật, và trên cơ sở xem xét quá trình minh oan của gia đình Hải trong suốt hơn 12 năm, Chủ tịch nước nhận thấy rằng nỗ lực của gia đình Hải là đáng trân trọng, và nỗ lực đó đã truyền cảm hứng cho xã hội một niềm tin vào công lý để luôn theo đuổi công lý, do đó quyết định ân giảm cho Hải hình phạt tù chung thân… thì đó chính là giá trị nhân đạo của thủ tục tố tụng này, từ góc cạnh là ‘quyền’ của người phạm tội. Tuy vậy, quyết định ân giảm hay không ân giảm hình phạt tử hình từ phía Chủ tịch nước không phải là thủ tục tố tụng, và không ảnh hưởng đến bất cứ hành vi tố tụng nào (ngoại trừ việc nếu chấp nhận ân giảm thì dẫn đến việc thi hành án khác đi). Quyết định từ chối ân giảm án cũng chỉ là một hành vi hành chính có tính chất câu trả lời, chứ không có giá trị hiệu lực gì trong thủ tục tố tụng, như giải thích của HĐTP. Bằng phán quyết của mình trong vụ án này, HĐTP đã đưa quyết định bác xin ân giảm hình phạt tử hình đối với tử tù từ một hành vi hành chính thành một thủ tục tố tụng có hiệu lực làm thay đổi các thủ tục tố tụng hình sự khác. Nó thậm chí còn chấm dứt quyền yêu cầu giám đốc thẩm, hoặc tái thẩm của tử tù khi phát hiện những tình tiết mới làm thay đổi vụ án, hoặc phát hiện những sai phạm nghiêm trọng khác một khi họ đã có đơn xin ân giảm hình phạt tử hình nhưng đã bị bác bỏ bởi Chủ tịch nước.

Kết luận này cũng đồng thời khẳng định một quy định pháp luật mới là Viện kiểm sát nhân dân tối cao (và Toà án nhân dân tối cao) chỉ có một lần duy nhất được ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm. Một khi các cơ quan này lựa chọn ban hành quyết định không kháng nghị (và gửi tờ trình đề nghị Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm án tử hình của người phạm tội, Chủ tịch nước sau đó bác đơn xin ân giảm) thì sau đó sẽ không được phép thay đổi thành quyết định kháng nghị kể cả có phát hiện gì mới về vụ án. Hiện nay không có bất cứ một quy định nào quy định rằng Viện kiểm sát nhân dân tối cao sau khi đã ra quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm thì không được phép thay đổi quyết định của mình, nhưng HĐTP bằng giải thích của mình đã quy định điều này.

Hi vọng rằng, từ phân tích về hai vấn đề trong Quyết định giám đốc thẩm của HĐTP trên đây, bạn đọc đã có đủ những thông tin cơ bản cho những nhận định của mình đối với hai vấn đề còn lại của quyết định, cũng như đối với toàn bộ quá trình xét xử giám đốc thẩm vụ án. Là người viết, tôi cũng không thể khẳng định HDH có phải là thủ phạm của vụ án hay không, nhưng tôi có thể khẳng định đã có quá nhiều vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng như được nêu trong kháng nghị của Viện kiểm sát tối cao. Và, như đã phân tích, cái gọi là ‘bản chất vụ án’ chỉ có thể trùng với sự thật khách quan khi nó được chứng minh theo một trình tự, thủ tục hợp pháp, mọi sai phạm đều có thể dẫn đến sai lầm. Đó là cái bạn có thể dựa vào cho những nghi ngờ hợp lý của mình.

Doan Nguyen

Trung Quốc đang “vồ vập” lấy vị trí lãnh đạo thế giới, nhưng liệu rằng thế giới có chấp nhận?

Thế giới sẽ thay đổi như thế nào, hay cục diện chính trị thế giới sẽ ra sao sau thời kỳ khủng hoảng của đại dịch Covid-19? Các nhà kinh tế học đã dự đoán về một cuộc suy thoái lớn trong nền kinh tế toàn cầu, trong khi các nhà tư tưởng hàng đầu thế giới dự báo về sự đổ vỡ nhất định của hình thái kinh tế – xã hội toàn cầu hoá với xu hướng hướng nội trong chính sách của các quốc gia, và sự gia tăng ảnh hưởng của chủ nghĩa quốc gia góp phần củng cố quyền lực cho chính phủ các nước. Bên cạnh đó các nhà tư tưởng cũng dự đoán về một khả năng “toàn cầu hoá với Trung Quốc” nhằm nhấn mạnh nỗ lực vươn lên giành vị trí lãnh đạo thế giới của Trung Quốc. M.Walt – giáo sư ngành quan hệ quốc tế Đại học Harvard cho rằng “dịch bệnh có thể thay đổi cấu trúc quyền lực chính trị thế giới, nhưng sẽ không thay đổi bản chất tự nhiên của nó là sự tranh giành quyền lực và lợi ích dựa trên những mâu thuẫn của các đế quốc sừng sỏ”.  Nhận xét này của Walt dường như đã đúng khi chúng ta đang chứng kiến sự “vồ vập” của Trung Quốc trong nỗ lực trợ giúp thế giới chống dịch, cũng như nỗ lực chính trị hoá hoạt động nhân đạo để tranh thủ mở rộng sự ảnh hưởng trên toàn cầu, mà trọng tâm là châu Âu – nơi mà sự cảnh giác với Trung Quốc ngày càng gia tăng.

Trung Quốc đang “vồ vập” lấy vai “người lãnh đạo” như thế nào?

Rush Doshi – Giám đốc Học viện chiến lược Trung Quốc tại Viện Brookings, thủ đô Washington D.C (Hoa Kỳ) nhận định: “Dịch bệnh corona lần này có thể là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng toàn cầu đầu tiên trong nhiều thập kỷ chứng kiến sự mờ nhạt trong vai trò lãnh đạo của Mỹ, nhưng lại đánh dấu sự nổi lên của Trung Quốc”. Bằng việc nhiệt tình kêu gọi đoàn kết quốc tế chống dịch, và chủ động trợ giúp các quốc gia khác với số lượng lớn hàng hoá y tế, Trung Quốc đã “tự định vị bản thân như là một trung tâm lãnh đạo thế giới đầy trách nhiệm trong thời khắc khủng hoảng toàn cầu”.

Trên một con phố ở thủ đô của Serbia người ta dễ dàng nhận ra một tấm áp phích lớn với hình ảnh của Tập Cận Bình và dòng chữ “Cảm ơn người anh cả, Tập” (Thank you, big brother Xi). Tấm áp phích này được treo lên ngay sau khi Trung Quốc cử một đội chuyên gia y tế và 16 tấn hàng hoá – thiết bị y tế đến trợ giúp Serbia chống lại dịch coronavirus. Tổng thống Serbia đã không thể giấu nổi sự xúc động và lòng biết ơn của mình đối với Trung Quốc bằng việc tự mình ra đón đoàn tại sân bay và hôn lên cờ Trung Quốc sau khi hôn cờ của Serbia với những “lời vàng cánh ngọc” để chào đón. 

Ảnh: Reuters

Trung Quốc không chỉ viện trợ và giúp đỡ cho Serbia – một trong những đồng minh thân cận bậc nhất của họ trong Liên minh Châu Âu, mà còn nhanh chóng trợ giúp cho Ý – quốc gia duy nhất của nhóm G7 tham gia vào chiến lược “Một vành đai – Một con đường” của Trung Quốc. Với một tư cách đặc biệt như vậy, Ý nhận được sự hỗ trợ vô cùng hào phóng từ Trung Quốc. Từ 17 đến 25 tháng Ba, Trung Quốc đã cử 36 chuyên gia y tế tới nước này. Hàng hoá y tế được vận chuyển làm ba đợt số lượng lớn, ước tính khoảng 28 tấn. 

Cùng thời điểm này Tập Cân Bình cũng đã có những bước đi ngoại giao được coi là chưa có tiền lệ đối với một số thành viên trụ cột của Liên minh Châu Âu. Bằng việc chủ động điện đàm với Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, Thủ tướng Đức Angela Merkel, Vua Felipe của Tây Ban Nha và Thủ tướng Anh Boris Johnson, Tập Cận Bình đã như muốn khoe mẽ tầm nhìn của mình về tính nghiêm trọng của dịch bệnh, cũng như nhận định việc thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa hợp tác quốc tế để đối phó, và tất nhiên Tập không quên nêu lên tinh thần sẵn sàng giúp đỡ của Trung Quốc nếu được yêu cầu. Tất cả những sáng kiến đối phó với dịch bệnh này Tập cũng không quên lặp lại ở một hội nghị trực tuyến nhóm G20 hồi tháng 3. 

Đối với Mỹ, Tập lại hành động như một người anh cả với hiểu biết, bao dung, biết vì nghĩa lớn mà gạt đi những “cãi vã cỏn con” về việc con virus corona đến từ đâu. Ông chủ động điện đàm với Tổng thống Donald Trump và kêu gọi Hoa Kỳ có những hành động cải thiện mối quan hệ hai nước nhằm tăng cường hợp tác ngăn chặn dịch bệnh. Lời lẽ của Tập như muốn thể hiện một tầm nhìn xa, vừa như trách móc Hoa Kỳ đã làm tình hình căng thẳng thêm; vừa động viên, vừa như cảnh bảo Trump rằng, hợp tác với Trung Quốc là lựa chọn duy nhất của Hoa Kỳ, cũng là lựa chọn tốt nhất cho việc chống dịch trên toàn cầu.

Trung Quốc cũng khá bận rộn ở châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Á và Đông Nam Á – nơi được coi là sân nhà, với nhiều hoạt động hội thảo chia sẻ kinh nghiệm và trợ giúp. Trong đó, Trung Quốc chủ động mở một hội thảo trực tuyến cấp bộ trưởng ngoại giao với Hàn Quốc và Nhật Bản, kêu gọi sự hợp tác chặt chẽ giữa ba quốc gia để ngăn chặn sự lây lan dịch của dịch bệnh trong khu vực. Cuộc hội đàm về cơ bản đạt được sự đồng thuận hợp tác về nhiều mặt. Bên cạnh đó, Trung Quốc triển khai các hoạt động trợ giúp khắp châu Á với số lượng lớn thiết bị và hàng hoá y tế đến Iraq, Iran, Pakistan, Laos, Philippines, và Cambodia. 

Kể từ khi đại dịch coronavirus bắt đầu đến khi lan rộng ra hầu khắp các nước trên thế giới, Trung Quốc là quốc gia đi đầu và nhiệt thành nhất với tiếng gọi “cả thế giới đoàn kết lại” để chống COVID-19. Để tiếng gọi của mình không trở nên vô vọng, Trung Quốc đã tài trợ cho Tổ chức Y tế thế giới (WHO) 20 triệu USD nhằm “hỗ trợ WHO thực hiện chức năng đoàn kết thế giới chống dịch”, và đây không phải khoản phí thành viên bắt buộc mà mọi quốc gia đều có trách nhiệm. Một hành động hào phóng và nghĩa tình như vậy, và dù chưa chắc chắn về tính hiệu quả của nó, nhưng nó đã làm nên một câu chuyện trong cuộc chiến chống dịch: Câu chuyện Trung Quốc – WHO.

 Rõ ràng Trung Quốc có vẻ đang dốc lòng thực hiện trách nhiệm trợ giúp nhân đạo – một giá trị loài người, hoặc ít nhất, Trung Quốc đang nỗ lực thể hiện điều đó. Nhưng liệu có phải Trung Quốc đang lợi dụng dịch bệnh để mở rộng sức ảnh hưởng và đánh bóng vai trò của mình? Câu trả lời là: có, “nỗ lực hoạt động nhân đạo của Trung Quốc là thật, nhưng nó có ý đồ chính trị, và thế giới cần phải cảnh giác điều đó”. 

Đằng sau bộ mặt hào nhoáng bóng bẩy

Trong cuộc khủng hoảng dịch bệnh ngày càng trầm trọng như hiện nay, Trung Quốc dưới sự điều hành của Tập Cận Bình dường như đã biến thành một trung tâm điều phối quốc tế với các cuộc gọi đi liên tục từ Bắc Kinh để đề nghị được giúp đỡ, và các chuyến bay liên tục cất cánh đến phân phối hàng hoá y tế đến khắp nơi trên thế giới. Vậy nhưng, Trung Quốc hiện nay không những đang phải đối mặt với cáo buộc che giấu dịch bệnh ở giai đoạn đầu, báo cáo số liệu không đầy đủ và không chính xác về dịch bệnh, mà bao trùm hơn cả, Trung Quốc đang thực sự làm cả thế giới bất an, lo lắng và ngờ vực.

Ngoại giao khẩu trang hay nỗ lực nhân đạo có lẽ là một trong những nội dung quan trọng chiến lược nhằm xây dựng hình ảnh thân thiện, nghĩa hiệp của Trung Quốc nhân cơ hội dịch bệnh. Tuy vậy, đây có vẻ lại là đòn “gậy ông đập lưng ông” khi Trung Quốc đang nhận nhiều cáo buộc về việc cung cấp hàng hoá thiết bị y tế kém chất lượng hoặc không có tác dụng hỗ trợ. “Made in China” vốn đã là chuyện nhiều “dị nghị” trên thế giới, nhiều người tự ý thức đó là một nhãn dán cho những loại hàng hoá dởm về chất lượng, thì nay có vẻ lại càng được củng cố hơn. Đây là chuyện chỉ xảy ra đối với hàng hoá của Trung Quốc. Nên nhớ rằng khi dịch bệnh bắt đầu ở Trung Quốc, gần 80 quốc gia và vùng lãnh thổ cùng 10 tổ chức quốc tế đã gửi viện trợ cho nước này và không có một phàn nàn nào về những hàng hoá đó.

Ngoại giao khẩu trang được sử dụng như một thanh kiếm sắc của Trung Quốc để chiếm đoạt tầm ảnh hưởng trên thế giới trong cuộc chiến chống dịch coronavirus, với hơn 50% sản lượng khẩu trang hiện được sản xuất tại Trung Quốc và Trung Quốc kiểm soát chuỗi cung ứng bằng các biện pháp hạn chế xuất khẩu ngầm, thậm chí thu gom hầu hết khẩu trang trong nước trước khi đại dịch bắt đầu. 

Không những vậy, để chiến lược ngoại giao khẩu trang thêm phần hiệu quả, Trung Quốc còn thực hiện chiến dịch gom hàng trên khắp thế giới gây nên tình trạng khan hiếm. Ngay khi dịch bệnh lan rộng ở Vũ Hán, bên cạnh nhận hàng viện trợ từ khắp nơi trên thế giới, Trung Quốc nhập khẩu phần lớn khẩu trang và mặt nạ chống độc trên khắp thế giới, khoảng 56 triệu chiếc. Chỉ trong vòng một ngày, 30/1, Trung Quốc nhập khẩu 20 triệu khẩu trang y tế và mặt nạ phòng độc. Sydney Morning Herald – một tờ báo tại Úc đã điều tra và chỉ ra rằng các hoạt động gom hàng được thực hiện bởi các công ty lớn có chi nhánh hoạt động trên toàn cầu, do chính phủ Trung Quốc hậu thuẫn. Các nhân viên, hầu hết là người Trung Quốc, được ra lệnh “thu gom nhiều nhất có thể tất cả các mặt hàng y tế” từ khẩu trang cho đến nước rửa tay khô… Tất nhiên, Úc cũng như các quốc gia khác đã có nhiều biện pháp để ngăn chặn các hành vi này của Trung Quốc.

Câu chuyện Trung Quốc – WHO

Tổ chức Y tế thế giới hiện nay đang bị buộc tội “đi đêm” với Trung Quốc nhằm che giấu dịch bệnh ở thời điểm ban đầu. Tổng thống Mỹ Donald Trump đã chỉ trích WHO là đã thấy tính nghiêm trọng của dịch bệnh nhưng không báo cáo, và cho rằng WHO “luôn luôn đứng về phía Trung Quốc”. Và để làm rõ hơn vấn đề này, Nhà Trắng đã ra quyết định tạm dừng việc tài trợ thường niên cho WHO, ước tính khoảng 400 triệu đô-la mỗi năm. Mặc dù không có bằng chứng rõ ràng rằng Trung Quốc đã dùng WHO như một là bài để lừa bịp thế giới, khó mà tránh được việc dư luận thế giới đặt câu hỏi.

Trung Quốc đã kể chuyện chống dịch COVID-19 như thế nào? Trung Quốc đã mắc một sai lầm nghiêm trọng trong việc cố tình che giấu dịch bệnh ở giai đoạn đầu dẫn đến để dịch bùng phát ở Vũ Hán, nhưng có lẽ sai lầm đó không phải là hồ đồ nhất thời của giới lãnh đạo vì nó còn được che giấu bài bản sau này. Tờ New York Times đã tiến hành một nghiên cứu với hàng nghìn bài đăng trên mạng xã hội Weibo của các nhân viên ngoại giao và nhân viên nhà nước của Trung Quốc, và phát hiện ra có ba thông điệp chủ đạo mà Trung Quốc muốn định hình truyền tải ra nước ngoài. Đó là (i) tinh thần lạc quan và tin tưởng tuyệt đối của người dân với chính quyền; (ii) truyền thông nhà nước liên tục chạy các bài đăng trích dẫn những lời khen ngợi của giới chuyên gia nước ngoài (WHO), hoặc người nước ngoài đang sinh sống tại Trung Quốc với thành công chống dịch của Trung Quốc; (iii) các bài đăng nhằm tái định vị vị trí xuất xứ của vi rút corona là xuất phát từ Mĩ được đăng thành phong trào nhằm chối bỏ trách nhiệm và những sai lầm ban đầu của Trung Quốc. Như vậy, Trung Quốc với bộ máy tuyên truyền lớn nhất thế giới của nó đã được triển khai tối đa công suất để, không những viết lại lịch sử chống dịch trong nước bằng kiểm duyệt và đàn áp, mà nó còn làm cho thế giới nhận thức rằng “Trung Quốc đã giúp thế giới có thêm thời gian để chuẩn bị đối phó với dịch bệnh; vi rút corona không hề có nguồn gốc ở Trung Quốc; và Trung Quốc sẽ sẵn lòng giúp đỡ người dân khắp thế giới”.

Mặc dù chưa kết thúc, nhưng Trung Quốc cũng đã kể câu chuyện về dịch Covid-19 theo cách của Trung Quốc, và thế giới có lẽ cũng đã phần nào nhận ra “tính cách nhân vật” của Trung Quốc. Liệu rằng bao bọc Cambodia liệu có thâu tóm được Asean; ôm ấp vỗ về Ý, Serbia có xô ngã được Liên minh châu Âu; viện trợ khắp thế giới có lôi kéo được loài người đi theo chế độ độc tài toàn trị?

Lời kêu gọi “cả thế giới đoàn kết lại” để chống dịch của Trung Quốc đang bị các nhà lãnh đạo hàng đầu thế giới phớt lờ, dường như chưa có chỉ dấu nào cho thấy sự hưởng ứng. Điều này cho thấy sau bao nỗ lực xây dựng hình ảnh nhằm mở rộng tầm ảnh hưởng, Trung Quốc vẫn là một sự ngờ vực, một nỗi lo lắng lớn đối với thế giới. Đó cũng là lý do mà Thủ tướng Đức Angela Merkel đã đánh giá (có tính chất hạ thấp) những nỗ lực trợ giúp của Trung Quốc chỉ là hành động bình thường, “có đi có lại“, và không quên nhắc nhở các thành viên EU khác rằng, “trong thời gian khủng hoảng chung chúng ta không thể mong đợi trợ giúp như đã thoả thuận”, lời nhắc nhở cũng như một lời cảnh báo đến các quốc gia thành viên về âm mưu của Trung Quốc ở châu Âu và thế giới nói chung.  

Doan Nguyen

Bài gốc đã đăng tại Luật khoa tạp chí ngày 5/5/2020

“Trò con bò” của Trung Quốc

Trung Quốc hiện nay vẫn được biết đến là một quốc gia độc tài đảng trị, sở hữu bộ máy tuyên truyền lớn nhất thế giới, bao gồm tất cả các thể loại báo, đài, phim ảnh dải khắp năm châu. Với bộ máy tuyên truyền thuộc dạng “hàng khủng” như vậy, Trung Quốc đã dễ dàng áp đặt góc nhìn của thế giới về mọi câu chuyện mà Trung Quốc muốn kể, từ các thể lại tuyên truyền về đường lưỡi bò phi pháp ở biển Đông cho đến gần đây là cuộc chiến chống dịch corona.

Trung Quốc chơi “trò con bò” như nào?
Để chỉ ra việc Trung Quốc hiện nay đang ra sức tuyên truyền nhằm định hướng dư luận thế giới về cuộc chiến chống dịch tại Trung Quốc, và vai trò vĩ đại của Trung Quốc trong việc cả thế giới chống dịch. Tờ NYT đã tiến hành nghiên cứu hàng nghìn tweets của các hãng truyền thông nhà nước, nhân viên ngoại giao và nhân viên nhà nước khác của Trung Quốc (nhóm tuyên truyền cấp 1). Nghiên cứu này chỉ ra rằng, có một mệnh lệnh nào đó đã được đưa xuống để tất cả các đơn vị tuyên truyền cấp 1 cùng truyền tải những thông điệp nhất định tại một thời điểm. Dựa trên các tweet của nhóm tuyên truyền cấp 1, NYT nhận thấy có ba thông điệp chính mà Trung Quốc muốn thế giới phải “hiểu theo cách nói của Trung Quốc”, đó là: (i) ở Trung Quốc, người dân luôn lạc quan và trọn niềm tin yêu đối với đảng và chính phủ (vậy nên, tất cả các bài đăng than vãn – phàn nàn về chính sách của nhà nước đều được nhanh chóng biến mất không một chút dấu vết xót lại); (ii) Trung Quốc là chiến sĩ tuyến đầu trong trận chiến toàn thế giới chống dịch (với việc tự xây dựng hình ảnh lãnh đạo thế giới đầy nghĩa hiệp, gửi hàng cứu trợ khắp năm châu bốn bể, và đặc biệt Trung Quốc tận dụng mọi lời khen hoặc có ý khen ngợi thành tích chống dịch đối với Trung Quốc từ phía chuyên gia nước ngoài (WHO) để đánh bóng hình ảnh của mình); (iii) và nghi vấn nguồn gốc của vi rút corona có thể không đến từ Vũ Hán như thế giới vẫn nghĩ.

Cụ thể hơn về “trò con bò” của Trung Quốc
Viện Chính sách Chiến lược Úc (ASPI) cũng có một nghiên cứu cụ thể hơn về cách chơi “trò con bò” của Trung Quốc để tìm hiểu và trả lời câu hỏi: “Các đơn vị tuyên truyền cấp 1 truyền tải ý chí (thông điệp) của đảng cầm quyền như thế nào?”. ASPI nghiên cứu nội dụng tweets của các đơn vị tuyên truyền cấp 1 trong thời gian 01 tuần, từ ngày 8 đến 15 tháng 4, và cũng nhận ra xu hướng chính của nhóm này là truyền tải thông điệp theo chỉ thị. Các chỉ thị cho tuần này bao gồm việc: (i) bảo vệ hình ảnh WHO trong khi tổ chức này đang chịu nhiều tai tiếng về khả năng “đi đêm” với Trung Quốc để giấu dịch giai đoạn đầu; (ii) tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền theo hướng chế độ độc tài Trung Quốc đã chống dịch hiệu quả hơn chế độ dân chủ phương Tây (bằng các biện pháp tự tạo hình ảnh quen thuộc như quảng cáo tinh thần trợ giúp nghĩa hiệp của Trung Quốc ở châu Phi; sử dụng ý kiến khen ngợi của các chuyên gia y tế, chính trị gia nước ngoài và người nước ngoài đang sống ở Trung Quốc về thành quả chống dịch của Trung Quốc; và hạ thấp các nỗ lực của các nước phương Tây, đặc biệt là Mĩ); (iii) chiến dịch “đánh hội đồng” Đài Loan và bảo vệ hình ảnh Tổng giám đốc WHO – Tedros.

undefined
ASPI nhận ra cách thức truyền tải thông điệp theo chỉ thị của nhóm tuyên truyền cấp 1 này là (i) sử dụng các tài khoản (thật) cấp cao, (như tài khoản của đại sứ quán, nhân viên bộ ngoại giao, lãnh sự…) để truyền tải thông điệp; và (ii) sử dụng các tài khoản vệ tinh (followers – dư luận viên – cả thật và giả mạo) để khuếch tán sự lan truyền (chia sẻ, đăng lại). Ví dụ, trong thông điệp bảo vệ hình ảnh của WHO. Trung Quốc lựa chọn vai trò của WHO ở châu Phi để phát tán những thông tin tích cực về vai trò của nó, hashtag – #OMS (phiên bản tiếng Pháp của WHO ở châu Phi) được sử dụng thường xuyên, và là 1 trong 20 hashtags được sử dụng nhiều nhất trong tuần. Và những thông tin này được phát đi nhiều nhất từ những tài khoản cấp cao của nhân viên Bộ ngoại giao là Hua Chuying và Lịian Zhao (phát ngôn viên Bộ ngoại giao Trung Quốc). Tương tự với chiến dịch “đánh hội đồng Đài Loan và bảo vệ Tedros”. Một hệ thống khoảng 65 tài khoản được cho là cư dân mạng Đài Loan đã tự đại diện cho người dân Đài Loan tweet “xin lỗi và mong sự tha thứ của Tedros” với “hành động đáng xấu hổ của Đài Loan” cùng hashtag – #saysrytoTedros@WHO, sau khi Tedros cáo buộc Đài Loan phân biệt chủng tộc với mình. Chỉ trong vòng chưa đầy một ngày, trước khi bị phát hiện và ngăn chặn bởi Cục điều tra Đài Loan, 60% của hệ thống 65 tài khoản đặc biệt này đã tweet hơn 100 lần lời xin lỗi Tedros dựa trên ý chí của người dân Đài Loan. Và, điều thú vị là, những tài khoản này lúc đầu đăng tweet bằng tiếng Trung giản thể (được dùng ở Trung Quốc đại lục), nhưng sau đó được chuyển sang các kí tự truyền thống (được dùng ở Đài Loan).
Tìm hiểu một chút về “trò con bò” của Trung Quốc để thấy rằng, Trung Quốc đang chơi một cách bài bản khắp thế giới, nên, đấu tranh thực sự với Trung Quốc còn khó, chứ không nói chuyện đấu tranh nửa vời lúc thì “nước lạ”, lúc lại “nước ngoài”, vài hôm sau lại “ông anh tốt”, ba hôm sau lại “Trung Quốc ngang ngược” như kiểu của Việt Nam hiện nay.

Doan Nguyen

Trung Quốc muốn thế giới chống dịch Covid-19 như thế nào?


Dịch bệnh corona xuất hiện ngày nay như một sự kiện kết nối thế giới, nhưng đó là sự kết nối vào một nỗi sợ hãi, hoảng loạn và bất ổn định. Từ lâu, các chuyên gia đã mường tượng đến những loại hình chiến tranh mới không có hình dáng như Thế chiến I hay II. Liệu có phải Covid-19 là sự kiện khởi đầu cho một cuộc chiến như vậy, như một sự khủng hoảng, để trong cơn khủng hoảng đó người ta dẫm đạp lên nhau mà định hình lại vị trí của mình. Dù sao thì người đời cũng đã khuyên mấy anh tiểu nhân đại khái rằng “nếu không chạy bằng hoặc nhanh hơn người khác thì cũng nên kéo họ lại cho bằng mình”. Liệu có phải sự xuất hiện của đại dịch corona, nếu không phải được Trung Quốc tạo ra, thì cũng đang được Trung Quốc sử dụng như một chiến lược trong chính sách vươn lên làm lãnh đạo thế giới? Tất nhiên, nếu thế giới bước vào một cuộc đại suy thoái tức là một cuộc đua mới được bắt đầu, kẻ có tiềm lực mạnh sẽ vươn lên. Thế giới hiện nay không còn thường xuyên chứng kiến những phát minh vĩ đại đủ để làm thay đổi tiềm lực, vị trí quốc gia. Vậy nên khi cuộc đua bắt đầu Trung Quốc không khác nhiều so với thế giới phương tây. Thậm chí, Trung Quốc còn là đầu tàu kéo nền kinh tế thế giới ra khỏi cuộc khủng hoảng với các chương trình đã có, hoặc các kế hoạch hỗ trợ mới. Và nếu như vậy, vị trí của TQ đương nhiên thay đổi. Ví dụ ư? Hãy xem Trung Quốc đang công bố thành tích kiểm dịch, và nhiệt thành ủng hộ thế giới chống dịch ra sao

Đầu tiên cần nhấn mạnh rằng, dù Covid-19 đến một cách tự nhiên, hay được mang đến có chủ đích (theo thuyết âm mưu – dù chưa biết từ đâu, do ai) thì nó đã và đang tạo nên một sự khủng hoảng thật sự, cả về tinh thần (sợ hãi, hoảng loạn) và vật chất (các sự ngưng trệ của hoạt động kinh tế và thiệt hại cân-đo-đong-đếm được). Về vấn đề sợ hãi và hoảng loạn, hiện nay chưa có báo cáo cụ thể nào so sánh để đưa ra số liệu về mức độ hoảng loạn và sợ hãi của con người đối với Covid-19 so với các loại dịch bệnh khác. Tuy vậy, nhờ có social media mà chúng ta có thể (lần đầu tiên) cảm nhận được sự hoảng loạn toàn cầu. Khi Ebola hoành hành người ta có thể không hay, nhưng hiện nay có mấy ai không sợ Covid?

Về thiệt hại đối với kinh tế, đây là điều hiển nhiên ai cũng nhìn thấy khi có sự lây nhiễm xuất hiện (mức độ thiệt hai tuỳ thuộc vào phạm vi của dịch và các biện pháp áp dụng). IGM forum (The Initiative on Global Market) đã tiến hành một khảo sát lấy ý kiến của các chuyên gia kinh tế hàng đầu của Mĩ và khu vực châu Âu về câu hỏi: Liệu rằng Covid-19 có khả năng gây ra một cuộc đại suy thoái?

Câu trả lời là có thể, với 62% ý kiến của các chuyên gia Mĩ và 82% ý kiến của các nhà chuyên gia từ châu Âu tham gia vào cuộc khảo sát đồng ý rằng, Covid-19 sẽ tạo ra một sự suy thoái nghiêm trọng . Và thực sự nếu các quốc gia đều chống dịch như Trung Quốc thì các chuyên gia kinh tế đúng.

Có một số thực tế (facts) có thể nêu ra lúc này: (i) con người đang hoảng loạn, sợ hãi và kì thị nhau hơn vì Covid-19; (ii) trong bối cảnh toàn cầu hoá, sự sợ hãi dịch bệnh lây lan làm đình trệ các hoạt động kinh tế bình thường mang tính quốc gia và quốc tế; (iii) Covid-19 chưa có vắcxin hay thuốc chữa trị; (iv) Covid-19 bắt đầu lây lan nhanh ở các nước phát triển, phương Tây; (v) truyền thông quốc tế bắt đầu xuất hiện các luồng quan điểm về vấn đề nguồn gốc xuất hiện của vi rút (where is the Covid-19 made in?), mà khởi sự của nghi vấn bắt đầu từ các quan chức Trung Quốc; và (vi) Trung Quốc đã bắt đầu trợ giúp các nước khác chống dịch. Nhưng, hãy nhìn vào nơi dịch bệnh bắt đầu: Trung Quốc.

Điều làm công dân toàn cầu lo lắng và sợ hãi nhất chính là khả năng lây lan của dịch Covid, cái mà ban đầu tên là Coronavirus, hay là Vũ Hán virus, gắn với điểm bắt đầu từ Trung Quốc. Với tốc độ lây lan nhanh chóng mặt so với các loại dịch khác, cùng với cách thức xử lý của Trung Quốc – phong toả toàn bộ khu vực có dịch và hạn chế các hoạt động đời thường đã làm cả thế giới “sốc toàn tập” (Phải nói thêm một yếu tố, đó là sự nổi lên của Trung Quốc trong hơn một thập kỉ gần đây đã thu hút sự hơn quan tâm của cả thế giới, dẫn đến việc mức độ sốc của thế giới lớn hơn khi biết về Covid-19). Nhưng nhìn vào số liệu của Trung Quốc một tuần trở lại đây (không tính chuyện số liệu có phản ảnh thực tế hay không) thì rõ ràng là Trung Quốc đã kiểm soát được dịch bệnh. Tờ Thời báo Hoa Nam Buổi sáng hôm nay (15/3) có bài phản ánh sự hồi sinh của “tâm bão” Vũ Hán sau chuyến thăm của chủ tịch nước Tập Cận Bình ngày 10/3. Bài báo miêu tả một số dấu hiệu cho thấy các hoạt động phong toả và hạn chế đã được nới lỏng, và người dân bắt đầu lại những hoạt động đời thường; “giai đoạn tồi tệ nhất của vùng đất mẹ đã đi qua trong khi ở ngoài kia, nhiều nước vẫn đang vật lộn với dịch bệnh”. Tổng giám đốc Tổ chức Y tế thế giới ngày 10/3 cũng đưa ra bình luận khen ngợi Trung Quốc đã có những “nỗ lực ấn tượng” để kiểm soát dịch, sau khi kí một thoả thuận để nhận của Trung Quốc 20 triệu đô la.

Quả đúng là như vậy. Nhìn số liệu một tuần trở lại đây các ca nhiễm mới ở Trung Quốc có thể đếm được trên đầu ngón tay hoặc cả đốt ngón tay, trong khi số ca nhiễm ở Ý, Hàn Quốc và Iran là hàng trăm và vài nghìn/ngày. Vậy, nếu cần tìm một nơi để học hỏi kinh nghiệm chống Covid-19 thì đó chính là cái tổ của nó –Trung Quốc.

Trung Quốc đã làm gì để kiểm soát được Covid-19 như hiện nay?
Về cơ bản chương trình phòng chống Covid-19 của Trung Quốc gồm ba giai đoạn chính, nhưng quan trọng và chủ yếu nhất là nhanh chóng thành lập các “đội đặc nhiệm” phòng chống dịch từ trung ương tới cơ sở, mà đứng đầu là các lãnh đaọ cao nhất. Cái thứ hai nhằm vào phát hiện, kiểm soát nguồn bệnh; ngăn ngừa lây nhiễm và xây dựng các bệnh viện dã chiến, điều trị với phương pháp chủ yếu là cấm, huỷ được tất cả những gì cần thiết. Nói cách khác là phong toả và hạn chế hầu hết hoạt động bình thường của cộng đồng. Phải chăng, đó chính là lộ trình mà các nước đang có dịch nên làm theo. Kết quả là dịch sẽ hết, nhưng nền kinh tế cũng chết.

Doan Nguyen

HẢI CHIẾN HOÀNG SA 1974 – KHÔNG CÓ TRẬN CHIẾN NÀO NÊN BỊ LÃNG QUÊN

Không có trận chiến nào nên bị lãng quên, vì, có cuộc chiến nào mà không có máu-xương tan nát, và những niềm-đau, mất-mát. Trận đánh nào mà không có thắng-thua, đội quân nào mà không có người mạnh-kẻ yếu, người dũng- kẻ hèn. Hèn hay dũng có thể là nguyên do của thua và thắng, nhưng thắng hay thua không phải là lí do để hèn được tô vẽ thành dũng, mà dũng lại bị bôi đen thành hèn.

Với những ai quan tâm đến lịch sử Việt Nam giai đoạn chiến tranh Việt Nam nói chung, và trận hải chiến Hoàng Sa (HS) nói riêng thì đều biết rằng trận hải chiến này chỉ chiếm một phần vô cùng hữu hạn trong các trang sử chính thống của Việt nam, nếu không nói là chỉ vài chữ ngắn gọn. Trong một nguồn tài liệu li ti như vậy, chắc hẳn hầu hết những ai muốn biết thêm thông tin về trận hải chiến đều sẽ dùng tới google. Thật tệ rằng, khi tìm kiếm từ khoá ‘hải chiến Hoàng Sa 1974’ trên google, kết quả đầu tiên sẽ là bài trên wikipedia với rất nhiều thông tin và giọng điệu mang tính quy chụp, định hướng người đọc rằng trận hải chiến Hoàng Sa thất thủ là do Hải quân Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) hèn, vì họ là những người ‘đi trận vì tiền’. Mặc dù, tinh thần chiến đấu cũng như chiến lược, sách lược đánh trận của hải quân VNCH trong trận chiến vẫn là một đề tài tranh luận chưa thực sự được làm rõ, nhưng việc cung cấp thông tin với ý đồ chụp mũ như vậy thật sự là một sự xúc phạm. Không chỉ là xúc phạm những ‘nắm xương còn vương đâu đó trong lòng biển’, mà còn là sự xúc phạm đến tinh thần yêu nước, bảo vệ tổ quốc của người Việt.

Bài viết này không nhằm mục đích giải thích hoặc chứng minh, mà đi vào giới thiệu, và ở đâu đó có sự phân tích những quan điểm trái chiều về thực tế trận chiến trong cái nhìn của những người trong cuộc bên phía VNCH. Điều này bởi lẽ, các tài liệu chính thống về trận hải chiến không nhiều, ngoại trừ các bài viết hoặc hồi kí của những người trong cuộc, như của đại tá chỉ huy Hà Văn Ngạc, hay Hạm trưởng chiến hạm HQ-16 Lê Văn Thự, tuy vậy hai bài biết của hai nhân vật chính trong trận chiến này lại trái ngược nhau khi miêu tả trận đánh. Một số nhà nghiên cứu khi viết bài về chủ đề này cũng đã dùng thông tin được đưa ra từ bài viết của Đại tá Hà Văn Ngạc, tuy nhiên, có rất nhiều chi tiết được trung tá Lê Văn Thự đặt dấu hỏi nhưng vẫn chưa được trả lời. Do đó, nhu cầu giải mã những đối lập trong các cách kể chuyện của những nhân vật này là cần thiết để: Một là đưa sự thật lịch sử trở về vị trí của nó, qua đó các thế hệ sau có được sự hiểu biết đúng đắn về trận chiến, về tinh thần của những người lính VNCH, hay chiến lược tác chiến cũng như nhận thức về kẻ thù nói chung ở thời điểm đó. Hai là, một sự mô tả trung thực về trận chiến sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn và nhận định về tính chính danh của TQ hiện nay khi họ đang tuyên bố chủ quyền, hiện diện bằng các công trình cơ sở hạ tầng thực tế trên các đảo thuộc quần đảo HS.

Phần 01: Tóm tắt câu chuyện của những người trong cuộc

[1] Hoàng Sa Nổi Sóng – thiếu tá Phạm Văn Hồng: Trưởng nhóm công binh được điều ra HS trên HQ-16 nhằm mục đích thám sát các điều kiện thiết lập một phi trường trên đảo HS.

 Theo lời kể của thiếu ta PVH, mà theo như lời ông kể thì ông là người được giao trách nhiệm đi theo HQ-16 ra HS để thám sát các điều kiện nhằm xây dựng một sân bay tại đây. Tuy nhiên, trong bài viết của mình ông cũng nhận định rằng đó hoàn toàn là một kế hoạch được dàn dựng vì thưc tế lúc đó VNCH hoàn toàn không đủ khả năng để xây dựng một sân bay, và Hoa Kì (HK) đã quyết định rút quân khỏi Nam Việt Nam (NVN) nên sẽ không còn sự tài trợ nào. Cộng thêm một chi tiết, cũng được ông kể lại đó là sự phòng thủ trên đảo là vô cùng yếu, và không được quan tâm đúng mực. Điều này thể hiện ở việc lực lượng đóng giữ trên đảo chỉ còn là quân địa phương, mà số quân địa phương này thực tế là những quân sĩ bị kỉ luật được điều ra, và thay đổi mỗi ba tháng. Với một sự đóng quân yếu ớt như vậy, cùng với tình hình vô cùng căng thẳng trong đất liền với Bắc Việt Nam (BVN), VNCH không thể có ý tưởng nào cho việc xây dựng sân bay. Do đó, HQ-16 không phải ngẫu nhiên đụng độ quân TQ tại HS, mà đó đã là một kế hoạch. Các chi tiết để chứng minh nhận định này cũng được thiếu tá đưa ra trong bài viết của mình, như chi tiết sự đi cùng và xuất hiện của lãnh sự Geral Kosh – người mà ông Hồng mô tả là đã được trang bị ‘tận răng’ cho một chuyến đi lâu dài. Hay một thông tin ông biết sau này rằng Hạm đội 7 của Mĩ có mặt gần khu vực cuộc chiến đã không cứu giúp lính hải quân VNCH lênh đênh trên biển đã chứng minh nhận định rằng Mĩ đã biết trước việc TQ tấn công HS và để mặc điều đó. Về vấn đề này thiếu ta PVH cũng nhận định rằng Mĩ không chỉ biết và làm ngơ kế hoạch tấn công của TQ, mà còn là người thiết kế kế hoạch, thể hiện ở việc gợi ý VNCH xây dựng sân bay ở đảo HS để kiểm soát toàn bộ hải trình vùng Đông Nam Á, và sẽ tài trợ dự án. Đó là lí do Kosh được đưa đi theo đoàn để tham sát khả năng tài chính việc xây dựng. PVH giải thích theo quan điểm của ông rằng, HK đã đưa cho TQ một cái cớ để tấn công. TQ chỉ đợi tàu chiến của VNCH ra đảo để khiêu khích nhằm khiến cho VNCH nổ súng trước nhằm thể hiện sự phản công. Bởi lẽ, TQ sẽ không thể biện minh cho hành động tấn công của mình nếu họ tấn công lên đảo, nơi chỉ có số lượng nhỏ quân địa phương, và một đội khí tượng vài người đã đóng ở đó lâu năm – điều mà TQ đã biết trước một cách chính xác khi vài tháng trước đó, TQ đã cử một thương thuyền đội lốt dân buôn xin được ghé vào nghỉ trên đảo để tránh bão. Họ còn tổ chức chơi trò chơi trốn tìm trên đảo để có cơ hội tìm hiểu địa hình và tổ chức trên đảo. Nhận định này hợp lí cùng với chi tiết TQ ra lệnh cho quân lính không được phép nổ súng trước.

Trong bài viết của thiếu tá PVH, ông không mô tả trận đánh diễn ra như nào, tuy nhiên ông có miêu tả về góc nhìn của ông từ trên đài khí tượng rằng khi ông nhận ra chiến sự căng thẳng đang diễn ra thì các tàu của TQ đã bao vây vòng trong của đảo, còn các tàu của VNCH ở vòng ngoài bắn vào. Ông thấy 2 tàu nhỏ của TQ đang chìm, các tàu khác của TQ sau khi nhắm bắn tàu VNCH đã hướng mũi tàu lên đảo trong khi các tàu của VNCH hướng mũi tàu ra ngoài (thoát thân). Ông cũng mô tả rằng TQ không có ý định gây sát thương trên đảo, nên các loạt đại bác đều bắn hướng lên cao, vào các mái nhà.

Điều này lí giải rằng TQ đã biết rằng có người Mĩ trên đảo, và cũng đã thông hiểu rằng trên đảo hoàn toàn không có hầm-hào trú ẩn cho nên họ không dám bắn thẳng vào các mục tiêu (nhà). Họ cũng đã biết lực lượng trên đảo mỏng, yếu, với vũ khí đơn giản nên chỉ cần đổ bộ “lấy thịt đè người” mà không cần dùng hoả lực. Nhận định này phù hợp với ý kiến rằng cuôc chiến đã nằm trong kế hoạch của cả TQ và Mĩ. TQ không thể để Kosh chết lúc đó, và TQ cũng mang theo phiên dịch viên tiếng Anh.

Giải thích về việc tại sao ông và lính địa phương khi thấy quân TQ đổ lên đảo đã chống trả yếu ớt. Thiếu ta PVH nói rằng, một là do trang bị trên đảo là thực sự yếu kém, hai là ông đã gọi bắt được liên lạc với Quân đoàn I thông qua đài khí tượng Đà Nẵng và biết rằng không lực đang được chuẩn bị ra tác chiến, gồm cả quân nhảy dù nếu trong trường hợp các máy bay không đủ nhiên liệu tác chiến. Do đó, ông vào lính địa phương đã chạy trốn vào các lùm cây trên đảo đợi không lực tiếp ứng.

Thiếu ta Hồng không đề cập chuyện có hay không máy bay của TQ xuất hiện tại vùng chiến. Điều mà hỉ huy đại tá Hà Văn Ngạc tuyên bố là có trong bài viết của ông (được trình bày sau).

Như vậy, qua lời kể của thiếu tá PVH, ông cho rằng VNCH hoàn toàn bị động và đã bị rơi vào bẫy của TQ trong sự tiếp tay của HK để tấn công HS. Sự lơ là canh giữ HS của VNCH thể hiện qua việc bố trí lực lượng không chuyên và rất yếu trên đảo.

Rõ ràng là VNCH đã không nắm được tình hình chuyển biến bên ngoài VN, đặc biệt là sự chuyển hướng của đồng minh của mình. VNCH có thể đã tin rằng dù HK rút khỏi VN nhưng vẫn là đồng minh của NVN, và đối với TQ thì HK vẫn là một sự đối đầu giữa khối tự do với khối XHCN cho nên đã không lường được sự ‘đi đêm này’. Và theo như lời kể của thiếu tá Hồng thì VNCH đã rất hào hứng với đề nghị xây dựng sân bay ở HS của Mĩ. Điều này cho thấy NVN hoàn toàn không nghi ngờ gì đồng minh của mình, và cũng không nhận thấy được cục diện địa chính trị thế giới đang thay đổi.

Thiếu tá Phạm Văn Hồng ngày được trả tự do (Ảnh: chinhnghia.com)

Phản hồi của cựu Hạm trưởng HQ-16 Lê Văn Thự đối với bài viết của ông về trận hải chiến Hoàng Sa 1974

Đây là bài viết thứ hai của cựu lính hải quân Việt Nam Cộng hoà Lê Văn Thự, người đã trực tiếp tham gia trận hải chiến Hoàng Sa với vai trò Hạm trưởng HQ-16. Bài viết với tiêu đề ‘Trả lời tất cả về trận chiến Hoàng Sa’, nhằm để lí giải những thắc mắc, hoặc ‘bất mãn’ của cựu lính hải quân Việt Nam Cộng hoà đối với bài viết của ông khi ông cho rằng ông đã nói lên ‘sự thật về trận hải chiến Hoàng Sa’. Bài viết được đăng lại từ trang web chinhnghia.com. Qúi bạn đọc muốn đọc bài, hoặc những bài có liên quan có thể ghé thăm chinhnghia.com.

Kính qúi độc giả,

Sau khi bài viết “Sự thật về trận hải chiến Hoàng Sa” của tôi được đưa lên website Calitoday, nhiều độc giả góp ý trên mạng này, trong đó đồng ý cũng có mà chỉ trích cũng có. Tôi nghĩ đó là chuyện thường tình, nhưng tôi cũng xin phép được trả lời một vài độc giả đã buộc tội tôi, trong số này có cựu Hải Quân Thiếu Tá Nguyễn Chí Toàn là người trong cuộc – ông Toàn có mặt trên HQ5 là chiến hạm đã dự trận Hoàng Sa – và ông Hoàng văn Tâm mà tôi chắc cũng là một cựu HQ tuy ông không nói ra.

Những ý kiến của hai ông này nếu tôi không trả lời thì có thể gây ảnh hưởng sai lạc hay tạo nghi vấn nơi độc giả khi đọc bài viết cuả tôi. Trước khi trả lời thẳng vào những điểm ông Toàn và ông Tâm chỉ trích tôi, tôi xin nói rộng ra một chút về những gì liên quan đến trận chiến Hoàng Sa để quí độc giả hiểu rõ vấn đề hơn.

(CN: Những lời phản hồi sau đây do trang nhà http://www.doi-mat.vn/ chụp lại)

 1. Trận hải chiến Hoàng Sa xảy ra cách đây 30 năm ở giữa biển khơi nên không ai có thể biết để kiểm chứng những gì tôi hay các người khác có dự trận hải chiến Hoàng Sa viết ra, ngoại trừ những người trong cuộc. Nhưng những người trong cuộc một số hoặc vì không đủ điều kiện hoặc vì ngại ngùng không muốn lên tiếng để nói lên sự thật, một số khác thì vì lý do này hay lý do khác lại muốn che dấu sự thật bằng cách nói khác đi, do đó nếu độc giả chỉ đọc một vài ý kiến nêu lên trong mục góp ý của mạng này thì khó mà biết đâu là sự thật.

Phóng đồ hành quân tấn công của Hạm trưởng HQ16

Muốn biết rõ về trận hải chiến Hoàng Sa phải tìm đọc tất cả các bài viết liên hệ rồi phân tích, so sánh mới may ra thấy được đâu là sự thật. Chưa kể là phải sưu tầm thêm tài liệu của Bộ Tư Lệnh Hải Quân VN Cộng Hòa (BTL/HQ/VNCH) cũng như từ phía Trung Cộng có liên quan đến trận hải chiến Hoàng Sa. Công việc này đòi hỏi chuyên môn và chỉ dành cho những nhà nghiên cứu.

Trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 tôi nghĩ là một thất bại trước mắt mọi người trong nước lúc đó (trong cũng như ngoài Hải Quân) vì đã không giữ được đảo Hoàng Sa, chứ không phải là một chiến thắng như một số người trong Hải Quân đang huênh hoang lúc này ở hải ngoại. Dân chúng Miền Nam thì rộng lượng chấp nhận thất bại vì cho rằng VN Cộng Hòa qúa yếu so vơí Trung Quốc nên dư luận qua báo chí thời đó không hề chỉ trích hay lên án Hải Quân VN đã để mất Hoàng Sa, còn trong nội bộ Hải Quân tôi đoán đa số cảm thấy không có gì để hãnh diện, không thỏa mãn và nghi ngờ tinh thần chiến đấu của các cấp chỉ huy trong trận chiến Hoàng Sa mặc dầu họ không biết sự thật như thế nào.

Phóng đồ trận đánh của phía Trung Cộng theo Vũ Hữu San

2.  Tôi xin trích đoạn từ bài viết “Tường Thuật Trận Hải Chiến Hoàng Sa” của Đại Tá Hà văn Ngạc (page 21 of 33) để quí độc giả thấy phản ứng của vị Tư Lệnh Hải Quân VNCH đối với cấp chỉ huy trận chiến Hoàng Sa.

Đại Tá Ngạc viết: “Vào khoảng 01:00 giờ trưa (ngày 19/1/74), hai chiến hạm HQ4 và HQ5 đã cách Hoàng Sa chừng 10 hải lý, trời nắng và quang đãng. Tư Lệnh HQ đích thân ra lệnh cho cả hai chiến hạm trở lại Hoàng Sa và đánh chìm nếu cần, tôi nhận được giọng nói của Đô Đốc. Lệnh được thi hành nghiêm chỉnh ngay tức khắc. Sau khi liên lạc vô tuyến siêu tần số được điều hòa trở lại thì mọi báo cáo chi tiết về tổn thất và tình trạng lúc bấy giờ của hai chiến hạm được chuyển đầy đủ. Trên Tuần Dương Hạm HQ5 tôi cũng được thông báo về Tuần Dương Hạm HQ16 được Tuần Dương Hạm HQ6 tới hộ tống về Căn Cứ Hải Quân Đà Nẳng.

Đến khoảng 2:30 chiều , khi cả hai chiến hạm đang trở về Hoàng Sa, quá ngang Hòn Tri Tôn, nghĩa là cách đảo Hoàng Sa chừng 1 giờ rưỡi hải hành nữa (tức là cách Hoàng Sa chừng 22 hải lý nếu chạy với vận tốc 15 hải lý/giờ:ghi chú của người viết) thì hai chiến hạm được phản lệnh trở về Đà Nẳng.”

Tại sao Tư Lệnh Hải Quân(TLHQ) đích thân ra lệnh cho cả hai chiến hạm HQ4 và HQ5 quay trở lại Hoàng Sa?

Tôi đoán là TLHQ sau khi nghe Đại Tá Ngạc báo cáo có phản lực cơ và chiến hạm trang bị hỏa tiễn của Trung Cộng xuất hiện để có lý do rút lui, đã không tin những gì Đại Tá Ngạc báo cáo nên mơí bắt Đại Tá Ngạc quay trở lại Hoàng Sa.

Nhưng tại sao một giờ rưỡi sau, TLHQ lại ra phản lệnh cho phép Đại Tá Ngạc và HQ4, HQ5 trở về Đà Nẳng?

Tôi đoán là vì TLHQ cảm thấy bất lực trước một cấp chỉ huy tỏ ra tiêu cực trong khi thi hành nhiệm vụ ở giữa biển mà ông không thể nào kiểm soát được. Nếu đã sợ mà rút lui thì khi bắt quay trở lại: hoặc Đại Tá Ngạc có thể cho HQ4, HQ5 lềnh bềnh giữa biển mà vẫn báo cáo là đang tiến về Hoàng Sa như trích đoạn bài viết của Đại Tá Ngạc ở trên cho thấy lúc 1:00 giờ cách Hoàng Sa 10 hải lý; lúc 2:30 giờ lại cách Hoàng Sa 22 Hải lý. Như vậy là đi thụt lùi chứ đâu có tiến về Hoàng Sa như Đại Tá Ngạc viết?

Có thể vị trí thật sự của HQ4, HQ5 ở các thời điểm nêu trong bài viết của Đại Tá Ngạc còn ở xa đảo Hoàng Sa hơn nữa – hoặc Đại Tá Ngạc viện dẫn lý do trở ngại kỹ thuật (như HQ4 hay HQ5 hư máy chánh chẳng hạn) để không thể thi hành lệnh được nữa.

Còn nếu có ra lệnh bắt đánh đến chìm thì Đại Tá Ngạc và HQ4, HQ5 cũng không thể thắng được địch. Không có tinh thần chiến đấu thì làm sao thắng? Do đó theo suy đoán của tôi, TLHQ nghĩ rằng tốt hơn là cho họ trở về để đỡ tổn thất thêm hai chiến hạm mà chẳng mang lại lợi ích gì.

3.  Sau trận chiến Hoàng Sa, BTL/HQ/VNCH có báo cáo lên Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội VN Cộng Hòa (BTTM/QĐ/VNCH) thì tôi chắc BTL/HQ ở trong cái thế phải che dấu sự thật và phải báo cáo là cả 4 chiến hạm (HQ4, HQ5, HQ10, và HQ16) đã tận lực chiến đấu và chiến hạm nào cũng bị thiệt hại không nhiều thì ít, riêng HQ10 bị chìm. Hải Quân VNCH đã nỗ lực bảo vệ Hoàng Sa nhưng không thể thắng được một địch quân hùng hậu và tối tân hơn.

Còn nếu báo cáo HQ4, HQ5 vô sự thì có êm xuôi không? Sau trận chiến tôi nghe nói BTL/HQ có thành lập ủy Ban Điều Tra trận chiến Hoàng Sa (do HQ Đại Tá Phạm Mạnh Khuê điều khiển thì phải) nhưng tôi chưa bao giờ được ai hỏi một câu hỏi nào!

Tôi nghĩ BTL/HQ muốn che dấu sự thật nên khi phóng viên đài BBC phỏng vấn, hỏi tôi có phản lực cơ Trung Cộng xuất hiện trong trận chiến không? Tôi trả lời không có thì ngày hôm sau BTL/HQ phái một sĩ quan xuống HQ16 chỉnh tôi về câu trả lời của tôi.

Tuy BTL/HQ che dấu sự thật nhưng trong nội bộ Hải Quân, BTL/HQ đã đánh giá đúng thành tích chiến đấu của các đơn vị dự trận Hoàng Sa khi chỉ tiếp đón và ban huy chương cho một mình Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ16.

Cũng chính vì sự che dấu này mà mọi chuyện không rõ trắng đen nên bây giờ ra hải ngoại, ai muốn viết sao về trận Hoàng Sa cũng được, kể cả viết sai sự thật, miễn người viết đề cao Hải Quân.

4.  Sau khi trình bày những nhận xét của tôi về tình hình bên ngoài và bên trong Hải Quân đối với trận chiến Hoàng Sa vào thời điểm đó; tôi xin trả lời những điểm ông cựu HQ Thiếu Tá Nguyễn Chí Toàn chỉ trích tôi.

Trước hết tôi xin trích đoạn bài viết của Đ/Tá Ngạc (page 10 of 33) nói về nhiệm vụ của Thiếu Tá Toàn như sau:

“…Ngoài ra vị Tư Lệnh HQ Vùng (Vùng I Duyên Hải ) còn tăng phái cho tôi HQ Thiếu Tá Toàn (ghi chú của Trần Đỗ Cẩm: HQ Thiếu Tá Nguyễn Chí Toàn, Khóa 11 SQHQ/Nha Trang) mà tôi chưa biết khả năng nên trong suốt thời gian tăng phái tôi chỉ trao nhiệm vụ giữ liên lạc với các Bộ Tư Lệnh cho vị sĩ quan nàỵ”

Ông Toàn được tăng phái cho Đ/Tá Ngạc chứ không phục vụ trên HQ5 như ông ta nói. Ông Toàn viết trong mục góp ý của Calitoday.com ngày Apr.20,2004:

“…tôi là một trong các nhân viên trên chiến hạm HQ5 bị thương tích và tôi được biết với các tài liệu còn lưu giữ tại Hoa Kỳ bởi các giới chức Hải Quân VN liên hệ đến cuộc chiến, cho biết HQ4, HQ5 bị đạn từ hơn 30 đến 50 vết đạn lớn, không kể rất nhiều vết đạn nhỏ khác, kết quả này do tài liệu của Hải Quân Công Xưởng VNCH kiểm chứng thiệt hại các chiến hạm sau trận chiến…”

Ông Toàn nói ông bị thương nhưng ông có được chiến thương bội tinh không? Mà bất cứ quân nhân nào dự trận bị thương cũng đương nhiên được cấp. Lúc còn ở trong nước, tôi và có lẽ nhiều HQ khác không nghe nhân viên HQ4, HQ5 bị thương hay chết trong trận Hoàng Sa cũng như HQ4, HQ5 bị trúng đạn như ông nói. Nếu có thì tại sao HQ4, HQ5 không được tiếp đón và ban huy chương mà chỉ một mình HQ16 được thôi?

Ông Toàn cũng biết là sau khi bài viết “Sự Thật Về Trận Hải Chiến Hoàng Sa” của tôi đăng trên Thời Luận trong đó có nói HQ4, HQ5 chẳng bị trầy một vết sơn nào cả thì Hội Đồng Hải Sử (HĐHS) gồm hai vị cựu Đại Tá HQ đã lên tiếng chỉ trích tôi y hệt ông Toàn chỉ trích và còn nói thêm là một trong hai vị Đại Tá có mang theo ra hải ngoại đầy đủ phúc trình của BTL/HQ lên BTTM về trận Hoàng Sa cũng như phúc trình kiểm chứng thiệt hại của Hải Quân Công Xưởng về HQ4, HQ5, nhưng khi một số cựu HQ yêu cầu HĐHS công bố tài liệu để mọi người được biết thì HĐHS vẫn giữ im lặng!

Như vậy sự kiện ông Toàn bị thương, HQ4, HQ5 bị thiệt hại không có gì chứng minh cả.

Nếu ông Toàn có nêu tên vài ba người trên HQ5 đã chứng kiến ông Toàn bị thương thì tôi cũng khó mà kiểm chứng được mấy người đó có thuộc thủy thủ đoàn của HQ5 không? Ngay cả 3 chiến sĩ hy sinh thuộc HQ5 được nói đến trong “Tài Liệu Hải Chiến Hoàng Sa” của Trần Đỗ Cẩm và Vũ Hữu San (trang 248) gồm 1 Thiếu úy và 2 Hạ sĩ quan nhưng cũng không rõ tên họ của họ, trong khi tác giả cuốn sách này chuẩn bị tài liệu để viết từ năm 1990 (trang 16 sách đã dẫn) mà vẫn chưa tìm được danh tánh của 3 người này!

Một chi tiết nữa mà ông Toàn cũng biết là Hạm Trưởng HQ5 – HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh – hiện ở San Jose- CA, được rất nhiều cựu HQ góp ý về “Tuyển Tập Hải Sử” yêu cầu lên tiếng về trận chiến Hoàng Sa, nhưng Trung Tá Quỳnh vẫn giữ im lặng, chỉ cho biết, qua Trung Tá Trần Quang Thiệu bạn cùng khóa, trận Hoàng Sa là một thất bại, không có gì hãnh diện để lên tiếng.

5.  Tiếp theo là phần trả lời ông Tuấn Nguyễn.

Ông Tuấn viết: “Viết sự thật là 1 chuyện nên làm. Tuy nhiên nay Đại Tá Ngạc đã ra người thiên cổ thì làm sao mở miệng được. Tại sao không lên tiếng khi Đại Tá Ngạc còn sống???”.

Không phải tôi chờ Đại Tá Ngạc ra người thiên cổ rồi mới viết bài “STVTHCHS”. Tôi không biết Đại Tá Ngạc có viết bài về trận Hoàng Sa. Chỉ khi ông Vũ Hữu San quảng cáo ra mắt sách về trận Hoàng Sa trên báo, tôi mới có ý định viết bài về trận Hoàng Sạ Trong khi nói chuyện với người bạn cùng khóa là HQ Trung Tá Võ Hữu Danh tôi mới được cho biết có bài viết về trận Hoàng Sa của Đại Tá Ngạc và Trung Úy Đào Dân và Trung Tá Danh đã cung cấp các bài viết đó cho tôi.

Tôi chỉ đề cập đến Đại Tá Ngạc khi thấy những điều ông nói liên quan đến HQ16 mà sai sự thật.

Những điều này cũng có liên quan đến HQ4, HQ5 dưới quyền điều động của Đại Tá Ngạc. Nếu ông không còn sống thì Hạm Trưởng HQ4, HQ5 có thể lên tiếng thay cho ông. Cũng như hai vị Đại Tá trong HĐHS cũng đã lên tiếng thay cho Đại Tá Ngạc khi buộc tội tôi “vạch áo cho người xem lưng và nói xấu đồng đội”, để không chịu tu sửa “Tuyển Tập Hải Sử” phần viết về trận chiến Hoàng Sa.

Hai vị này cũng nói là HQ4, HQ5 bị trúng đạn trong trận Hoàng Sa nhưng lại không chịu công bố tài liệu chứng minh!

Tôi chỉ nói sự thật và nói những cái sai của Đ/Tá Ngạc chứ không nói xấu ông ta.

Đại Tá Ngạc không còn sống nhưng có nhiều người lên tiếng thay cho ông trong đó có cả ông Toàn, ông Tâm và ông Tuấn.

6.  Sau cùng là phần trả lời ông Hoàng Văn Tâm.

Ông Tâm nói tôi có 3 điểm sai lầm sau đây:

1. “Chính tác giả (Lê văn Thự) tiết lộ không biết gì về hoạt động tác chiến của HQ4, HQ5 vậy mà dám đề tựa bài là: “Sự Thật Về Trận Hải Chiến Hoàng Sa”… Ngoài ra ông còn cho biết ông mất liên lạc với CHT Hành quân là Đại Tá Ngạc vậy mà ông dám phê bình bài tường thuật trận đánh của Đại Tá Ngạc là hoàn toàn sai”.

Thật sự tôi không hay biết gì về hoạt động của HQ4, HQ5 từ ngày 18/1/74 đến ngày 19/1/74. Trong khi HQ16 di chuyển ra vào lòng chảo quần đảo Hoàng Sa trong 2 ngày đó, tôi không thấy HQ4, HQ5 trong tầm nhìn của tôi.

Trong trận chiến ngày 19/1/74, bài viết của ông Ngạc cũng như của ông San đều nói là HQ4, HQ5 chỉ cách đảo Quang Hòa 4 đến 5 hải lý mà sao tôi không thấy được? Tôi đoán là họ ở cách xa từ 8, 9 hải lý trở lên, và phải quan sát thật kỹ may ra mới thấy được hoặc không thể thấy được vì quá xa.

Tôi nói sự thật những gì xảy ra trong trận chiến và đính chính những điều ông Ngạc viết sai. Ông Tâm đọc lại bài viết của tôi sẽ thấy tôi nêu rõ từng điểm một ông Ngạc viết sai.

Tôi không biết hoạt động của HQ4, HQ5 nhưng tôi biết chắc là họ không tham chiến vì họ ở rất xa trận chiến. Đó là sự thật.

2. Ông Tâm viết: “Thú nhận không biết hoạt động của HQ4, HQ5 vậy mà ông viết như đinh đóng cột: “Sự thật HQ4, HQ5 chẳng bị trầy 1 mảnh sơn nào cả. Cả Hải Quân đều biết… Nếu HQ4, HQ5 không bị trầy 1 mảnh sơn nào thì sao lại được Tuyên Dương Công Trạng trước Quân Đội?… Trong khi đó HQ4, HQ5 phải ứng chiến với 8 tàu TC còn lại để chúng không thể tập trung tiêu diệt tàu ông. Tình thế như vậy HQ4, HQ5 chắc chắn cũng phải mang đầy thương tích và tàu ông có bị 1 viên đạn lạc thì cũng chuyện thường. Nếu không xui xẻo bị trái đạn này thì tàu ông cũng đâu có trầy 1 mảnh sơn nào ?”

Nếu HQ4, HQ5 mang đầy thương tích kể cả người chết thì chắc chắn HQ4, HQ5 phải được Tuyên Dương Công Trạng. Nhưng sự thật HQ4, HQ5 không có mặt trong lễ tiếp đón chiến hạm trở về từ Hoàng Sa mà chỉ có một mình HQ16 được tiếp đón và gắn huy chương. Sự kiện này xảy ra ở bến Bạch Đằng trước sự chứng kiến của bao nhiêu người trong và ngòai HQ và diễn ra ngay trước BTL/HQ, chứ đâu phải xảy ra giữa biển khơi không ai thấy? Ông Tâm có nằm mơ không đây?

Ngoài ông Tâm ra, còn có ông Chu Bá Yến khóa 11 (cấp bậc Thiêú Tá hay Trung Tá HQ tôi không rõ) cũng gửi e-mail trong nội bộ HQ kèm theo 1 tấm hình TLHQ đang gắn huy chương cho một HSQ và nói đó là tấm hình TLHQ đang tuyên dương HQ4.

Cựu HQ Thiếu Tá Phạm Đình San đã trả lời bằng e-mail như sau: “…để tránh sự nghi ngờ là hình đã được ghép bằng kỹ thuật điện toán…, xin anh cho trích 1 đoạn phóng sự của báo Lướt Sóng Đặc Biệt đã nói về buổi lễ cùng danh tánh 1 vài nhân viên của HQ4 được gắn huy chương thì tốt hơn nữa…”.

Tôi xin thêm là tấm hình có thể không ghép nhưng không phải là hình tuyên dương cho trận Hoàng Sa. Sau đó ông Yến trả lời là tấm hình này được “scan” từ trong quyển “Lướt Sóng-Tiếng nói của HQ-Số Đặc Biệt Chiến Thắng Hoàng Sa” mà không viện dẫn thêm được điều gì nữa để chứng minh tấm hình là thật chẳng hạn như trích dẫn bài viết trong tờ Lướt Sóng.

Buổi lễ tiếp đón một mình HQ16 diễn ra trước mắt bá quan mà nay ông Yến, ông Tâm cố nói lấy được là HQ4 được Tuyên Dương Công Trạng thì tôi hết còn ý kiến. Thế cho nên trận chiến Hoàng Sa xảy ra giữa biển khơi khuất mắt mọi người nên những người trong cuộc thiếu tự trọng lại háo danh tha hồ nói theo ý họ bất chấp sự thật.

Đây là một dẫn chứng khác cho thấy người trong cuộc nói sai sự thật (không đánh mà nói có đánh) nhưng lại lòi đuôi ra: trong sách “Tài Liệu Hải Chiến Hoàng Sa”(TLHCHS) của Trần Đỗ Cẩm và Vũ Hữu San trang 111 có câu: “Hai đánh một, chẳng chột cũng què” chăng. Chúng ta phục vụ trên HQ4 ngày đó đều biết rằng sau hải chiến, chúng ta vẫn tiếp tục công tác tại vùng Duyên Hải Đà Nẵng không hề hấn gì.” (tức là không bị thiệt hại, không về Sài Gòn dự lễ tiếp đón và tuyên dương: ghi chú của người viết).

Ông Tâm nói HQ4 phải ứng chiến với 8 tàu TC. Xin ông Tâm đọc các phần trích dẫn sau đây trước khi nói. Sách “TLHCHS” của TDC và VHS (trang 67 từ dòng 18) viết:

“Ngay sau khi nhận được lệnh tác xạ vào tàu địch, hai khẩu đại bác 76,2 ly đã chuẩn bị từ lâu, khai hỏa chính xác trúng ngay tàu địch lúc đó nằm trong khoảng cách 1,600 yards. Chỉ trong vòng vài phút đầu tiên, chiếc Kronstadt 271 là soái hạm của hải đội Trung Cộng đã bị bắn cháy không còn khả năng tác chiến. Có nguồn tin nói rằng chiếc tàu này sau đó phát nổ và đã bị chìm.”

Trang 68 (sách đã dẫn) từ dòng 5 viết: “Mục tiêu của HQ5 là chiếc Kronstadt mang số 274 mặc dầu chống trả mãnh liệt nhưng bị hư hại nặng vì trúng nhiều đạn 40 ly và 20 ly nên bị loại ra khỏi vòng chiến …Tuy nhiên bị trúng đạn quá nặng, chiết Kronstadt này bắt buộc phải ủi vô bờ san hô phía Nam đảo Quang Hòa để tránh bị chìm.”

Như vậy là 2 chiến hạm Kronstadt bị loại ra khỏi vòng chiến, còn lại 6 chiến hạm Trung Cộng đi đâu mà tôi không thấy trong trận chiến. Nếu có 6 chiến hạm đó thì chúng phải tiếp cứu các chiến hạm Trung Cộng khác bị thiệt hại trong lòng chảo quần đảo Hoàng Sa hay truy kích và đánh chìm HQ16, HQ4, HQ5 để trả thù chứ?

Chưa kể các Phi Tiễn đĩnh loại Komar cuả địch đang trên đường tiếp viện. Loại Komar này chạy rất nhanh và sắp đến đảo Quang Hòa vì trang 68 (sách đã dẫn) viết: “…Trung Tá San cho biết cũng trong lúc đó, các chiến hạm VNCH quan sát thấy (không có HQ16 trong các chiến hạm này: ghi chú của người viết) có bốn lượn sóng lớn trắng xóa đang tiến từ hướng Đông Bắc với vận tốc rất nhanh và có tin các phi tiễn của địch đang trên đường tiếp viện.”

HQ16 lúc đó như con gà què, lê lết rời Hoàng Sa sau cùng thì phải thấy các chiến hạm Trung Cộng đó chứ, và nếu có chúng thì HQ16 đã bị đánh chìm rồi!

Trong bài “Tường Thuật Trận Hải Chiến Lịch Sử Hoàng Sa” (TTTHCLSHS) của Đại Tá Ngạc (page 18 of 33) lại viết:

“…Nhưng chẳng may, HQ4 báo cáo bị trở ngại tác xạ ngay từ phút đầu tiên và phải chờ sửa chữạ Việc này đã làm đảo các dự tính của tôi và làm tôi bối rối. Sau vài phút chiến hạm này xin bắn thử và kết qủa vẫn bị trở ngại và cần tiếp tục sửa chữa thêm, nhưng tôi vẫn còn chút hy vọng. Khu trục hạm HQ4 vài phút sau lại xin tác xạ thử lần thứ ba nhưng vẫn không có kết quả…”

Như vậy ông Tâm thấy HQ4 có hạ được chiếc Kronstadt 271 không? Và có ứng chiến được 8 tàu Trung cộng không? Hay Đại Tá Ngạc nói sai? Hay hai ông TDC và VHS nói sai? Hay tất cả các ông đó đều sai?

3. Điểm thứ 3, Ông Tâm viết: “Cuối bài viết, sau những suy luận vớ vẫn, ông gán cho Đại Tá Ngạc và bình luận gia Trần Bình Nam cái quyết định do ông nghĩ ra, để ông đưa ra một hàm ý nhục mạ các cấp chỉ huy HQVNCH trong trận HS.”

Bài viết của tôi có đề cập đến bài “Biển Đông Dậy Sóng”(BDDS) của ông Trần Bình Nam. Tôi rất tiếc là tôi đã không trích đầy đủ để dẫn chứng điều ông Trần Bình Nam nói: là có lẽ có sự thỏa thuận ngầm giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc để Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa của VNCH. Nay tôi không còn giữ bài “BĐDS” nữa nên không trích ở đây được để ông Tâm thấy. Bây giờ tôi trích nguyên văn từ bài “TTTHCLSHS” của Đại Tá Ngạc (page 29 of 33) để ông Tâm thấy:

“…HQ Đại Tá Đỗ Kiểm, tham mưu phó hành quân tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân còn đặc biệt cho tôi hay là có chiến hạm bạn (là Hoa Kỳ:ghi chú của người viết) ở gần, nhưng với sự hiểu biết của tôi, tôi không có một chút tin tưởng gì vào đồng minh này kể từ tháng 2 năm 1972 khi Hoa Kỳ và Trung Cộng đã chấm dứt sự thù nghịch nên Hải Quân họ sẽ không một lý do gì lại tham dự vào việc hỗ trợ Hải Quân VN trong vụ tranh chấp về lãnh thổ. Họa chăng họ có thể cứu vớt những người sống sót nếu các chiến hạm VN lâm nạn. Nhưng thực tế cho thấy trong suốt cuộc tìm kiếm những nhân viên từ Hộ Tống hạm HQ10 và các toán đổ bộ lên trấn giử các đảo đã đào thoát để trở về đất liền, chúng ta không nhận thấy một hành động nhân đạo nào từ phiá đồng minh kể cả của phi cơ không tuần…”.

Cũng trang 29 of 33 sách đã dẫn viết:

“…Một suy luận nữa là có thể trận hải chiến là một cuộc điều chỉnh sự nhượng quyền chiếm giữ từ một nhược tiểu đến một cường quốc theo một chiến lược hoàn cầu mà vài cường quốc đã ngầm thỏa thuận trước…”

Đại Tá Ngạc tuy không nói thẳng ra là Trung quốc quá mạnh (với phi tiễn đỉnh, với phản lực cơ, với tiềm thủy đỉnh) và đã có sự nhượng quyền giữa hai cường quốc nên Hải Quân VN Cộng Hoà có đánh cũng không thắng được (nếu không muốn nói là vô ích), nhưng những ý tưỏng này bàng bạc trong bài viết của Đại Tá Ngạc và cũng là lý do biện bạch cho sự rút lui của Đ/Tá Ngạc.

Không biết ông Tâm có thấy không nhưng nếu độc giả đọc bài “TTTHCLSHS” của Đại Tá Ngạc thì chắc sẽ thấy.

Chính vì bị ám ảnh bởi các ý tưởng này nên Đại Tá Ngạc quá lo sợ mà không dám đánh. Nội việc trên đường trở về Đà Nẳng mà còn sợ tiềm thủy đĩnh Trung Cộng phục kích thì còn đâu tinh thần để chiến đấu ?

Chính vì sợ mà Đại Tá Ngạc chỉ để cho HQ16 và HQ10 đánh cho lấy có (theo ý nghĩ của Đại Tá Ngạc) rồi cùng HQ4, HQ5 rút lui.

Phần sau cùng bài viết “STVTHCHS” của tôi chủ ý muốn nói là nếu cấp chỉ huy trận chiến và các đơn vị tham chiến đồng tâm hiệp lực mà đánh thì Hoàng Sa đã không mất lúc đó. Còn chuyện gì sẽ xảy ra trong tương lai nơi đảo Hoàng Sa thì tôi không thể biết được.

7.  Trong phần đầu của bài “STVTHCHS”, tôi có nói muốn biết rõ trận Hải Chiến Hoàng Sa, những nhà nghiên cứu cần phải truy tầm tài liệu cả về phiá Trung Cộng nữa.

Hai ông TĐC và VHS đã làm công việc đó. Từ trang 102 đến trang 115 sách “TLHCHS” của TĐC và VHS nói về các website Trung Cộng mà nội dung đề cập đến HQ4. Các website này viết bằng Hoa ngữ và được trích dịch sang Anh ngữ nhưng khi đọc tôi thấy lủng củng, sai văn phạm và rất khó hiểu. Tôi chỉ đoán chừng thôi.

Tôi chắc các website này nếu có, cũng không nói lên sự thật vì Trung Cộng cách nay 30 năm là một nước độc tài sắt máu và cho đến bây giờ chính quyền Trung Cộng vẫn còn bắt giam những ai khác chính kiến, đòi tự do dân chủ hay chỉ trích chính quyền.

Trận Hải Chiến Hoàng Sa lại liên quan đến Quân Đội nhân dân Trung Quốc tức là thuộc loại bí mật Quốc Phòng thì ai trong nước họ dám lên tiếng đề cao kẻ địch là HQ4 như sách “TLHCHS” đã khoa trương?

Nếu đề cao kẻ địch chẳng được lợi ích gì mà còn mang họa vào thân thì có ai điên khùng để làm việc đó không?

Sự thật đọc mấy đoạn website trích dẫn trong “TLHCHS”, tôi chẳng thấy họ đề cao gì đến HQ4 cả.

Các website Trung Cộng nói về trận chiến Hoàng Sa nếu có, thì chỉ là do sự dàn dựng của chính quyền Trung Cộng mà thôi. Mục đích là để nói với thế giới quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của họ. Họ có dân ở đó, có cả một đội ngư thuyền ở đó và Hải Quân VNCH đã đến khiêu khích, đe dọa ngư dân, ủi và làm hư hại ngư thuyền của họ, cũng như xâm chiếm đảo của họ như một vài website đã trích dẫn trong sách “TLHCHS” của TĐC và VHS nói.

Trong bài “STVTHCHS” và bài trả lời này của tôi, tôi luôn luôn khẳng định HQ4, HQ5 không trực chiến với tàu Trung Cộng, họ chỉ ở bên ngoài “wait and see” rồi rút lui, nhưng tại sao Trung Cộng lại biết HQ4 và nói đến HQ4 trong website ?

Cái đó là vì Trung Cộng có bắt và đem về Trung Quốc một số quân nhân của HQ10 còn sống sót gồm sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ và một Trung úy cùng một số nhân viên thuộc HQ4 đưa lên giữ đảo.

Trung Cộng đã điều tra để lấy tin tức từ nhóm quân nhân này nên mới biết rõ tên và chi tiết của từng chiến hạm VN cũng như cấp chỉ huy VN trong trận chiến.

Trong bốn chiến hạm VN thì Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ4 là tối tân nhất do đó Trung Cộng mới nói đánh cho HQ4 tơi bời hoa lá thì mới oai hùng, (như website trích trong “TLHCHS” nói) chứ đánh với các chiến hạm tầm thường như HQ16, HQ10 thì đâu có gì oai phong. Trung Cộng đã cường điệu khi nói như vậy và HQ4 cũng dựa vào đó để cường điệu theo, chứ tối tân nhất mà chịu nhận là không đánh đấm gì cả thì coi sao được?

Sau khi trả lời rất chi tiết những góp ý của ba độc giả nêu trên và đề cập đến tính bất khả tín của tài liệu do BTL/HQ VN Cộng Hòa và Trung Cộng đưa ra nếu có, tôi nghĩ là bài trả lời của tôi đã quá đủ, kể cả cho những thắc mắc chưa được nêu lên.

Tôi xin cám ơn Calitoday đã đăng bài “STVTHCHS” cũng như bài trả lời độc giả này của tôi.

Kính,

Lê Văn Thự

Calitoday, 1/6/04

Sự thật về trận hải chiến Hoàng Sa

Trong quá trình tìm hiểu về trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 của quân lực Việt Nam Cộng hoà, sau khi đã tham khảo một số nguồn tài liệu đã được đăng tải trên internet, đặc biệt là các hồi ký, bài viết của cựu lính hải quân đã tham gia trận hải chiến. Nhận thấy hai bài viết của Lê Văn Thự -cựu hạm trưởng của HQ-16 là đáng được tìm hiểu và xác thực, nên tôi xin phép chia sẻ lại bài viết này ở blog của mình để tiện theo dõi. Quí bạn đọc nếu muốn tìm đọc bài, và những bài liên quan có thể ghé thăm trang web chinhnghia.com.

I  

 Từ ngày trận hải chiến Hoàng Sa xảy ra đến nay, tôi vẫn giữ im lặng, không viết ra những điều mắt thấy tai nghe những gì xảy ra trong trận chiến, vì nghĩ rằng trận chiến Hoàng Sa là một thất bại vì đã không giữ được đảo Hoàng Sa. So với những chiến tích lẫy lừng cửa tiền nhân trong lịch sử thì chúng tôi đã không làm nên được tích sự gì, vì vậy tôi cảm thấy hổ thẹn khi phải viết ra.

Nhưng nay đã có nhiều người viết về trận Hoàng Sa, trong đó có Hải quân Đại tá Hà Văn Ngạc là người chỉ huy trận chiến, và Trung úy Hải quân Đào Dân thuộc HQ-16. Nay lại có thêm Hải quân Trung tá Vũ Hữu San, Hạm trưởng HQ-4 viết một cuốn sách nói về trận chiến Hoàng Sa. Trong các bài viết cũng như cuốn sách đó, mỗi người nói một cách, không ai giống ai. Nếu ai chỉ đọc một bài thôi thì có thể tin đó là thật, nhưng nếu người đọc tinh ý thì vẫn có thể tìm thấy một vài chi tiết chứng tỏ người viết thiếu thành thật hay nói vu vơ phô trương nhiều hơn những gì cần nói. Còn nếu đọc hết tất cả các bài viết thì sẽ thấy người nói hươu kẻ nói vượn, chẳng biết tin ai. Người đọc sẽ đánh giá thấp Hải quân Việt Nam Cộng hòa và sẽ thắc mắc không biết trận chiến Hoàng Sa thật sự như thế nào.

Chính vì lý do này mà tôi phải lên tiếng.Tôi biết trong Hải quân có một số người biết sự thật, nhưng ai nói sai họ vẫn mặc kệ, miễn người viết đề cao Hải quân, còn nói thật thì họ cho là mất mặt Hải quân.Vì vậy khi viết bài này, tôi biết trước là sẽ có nhiều người bất mãn vì bài viết của tôi, không những bất mãn mà tệ hơn, còn lên án tôi là kẻ bêu xấu Hải quân, nhưng tôi vẫn phải viết để nói lên sự thật và nói thay cho những người đã chết trong trận Hoàng Sa.

Tôi cũng xin độc giả hiểu cho rằng trong các quân binh chủng, hàng tướng tá, úy, sĩ quan hay trong bất cứ tập thể nào cũng có người tốt kẻ xấu, người có trình độ cao, kẻ trình độ thấp, do đó xin quí vị không nên vơ đũa cả nắm. Hơn nữa bây giờ ra hải ngoại rồi, chúng ta phải nhìn nhận sự thật Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ chính vì cấp lãnh đạo và những người có trách nhiệm chứ đừng đổ lỗi cho đồng minh phản bội để chối tội.

Description: http://chinhnghia.com/su-tha2.jpg

Trước khi vào bài, tôi xin nêu lên vài ý kiến về bài viết của Trung úy Đào Dân vì ông ta cùng ở trên HQ-16 với tôi. Những gì xảy ra trên HQ-16, Trung úy Dân viết có thể đúng nhưng chưa chắc đã thấy hết mọi chuyện xảy ra trên HQ-16 vì ông chỉ ở một vị trí nào đó trên chiến hạm chứ không thể có mặt ở trên khắp mọi nơi, ngoài ra ông còn phải lo làm phận sự của ông chứ không thể ngồi không mà quan sát trận chiến. Những gì ông viết về HQ-4, HQ-5 và HQ-10 là hoàn toàn không đúng sự thật. Chính tôi là người chỉ huy HQ-16 mà cũng không biết những hoạt động của HQ-4, HQ-5 làm sao ông Dân biết được ?

Tôi nghĩ là ông Dân muốn viết về trận chiến Hoàng Sa mà ông có tham dự, nhưng khi muốn viết cho đầy đủ, ông phải nói đến các chiến hạm khác mà ông không biết hoạt động của các chiến hạm này nên phải tưởng tượng ra hoặc dựa vào phần nào bài viết của Đại tá Hà Văn Ngạc mà bài viết của Đại tá Hà Văn Ngạc thì hoàn toàn sai sự thật (tôi sẽ đề cập sau), điều này chắc chắn ông Dân cũng biết nên ông dễ dàng phóng bút theo mà không dám nói sự thật.

Ông Dân nói Trung Cộng đặt đài quan sát trên đảo, xây dựng doanh trại, và toán người nhái đổ bộ trong ngày cuộc chiến xảy ra báo cáo là có cả một tiểu đoàn quân Trung Cộng trú đóng, là không đúng sự thật. Chỉ có một dãy nhà gỗ đang xây cất dở dang. Còn người nhái không đổ bộ trong ngày cuộc chiến xảy ra và cũng chưa bao giờ lên được đảo.

Ông Dân viết: « Khi chúng tôi được lệnh tiến về phía đảo, HQ-10 hình như có vẻ chần chừ vì khoảng cánh giữa chúng tôi ngày càng xa và hạm trưởng HQ-16 đã nhiều lần thúc dục HQ-10 phải chạy sát nhau hơn » . Đây là chuyện không có. Sự thật, trong trận chiến HQ-16 tiến một hướng, HQ-10 tiến hướng khác để vào lòng chảo quần đảo Hoàng Sa chứ không tiến cùng một hướng. Từ đầu đến cuối trận chiến , HQ-10 đã làm đúng những gì tôi nói với Hạm trưởng HQ-10 tối hôm 18 tháng 1 năm 1974 trước ngày khai chiến 19 tháng 1 năm1974.

Ông Dân nói việc các chiến hạm hải hành tập đội để phô trương lực lượng là hoàn toàn không có. Đã đi đánh trận mà còn phô trương lực lượng thì không còn gì ngớ ngẩn bằng.

Description: http://chinhnghia.com/su-tha3.gif

Ông Dân nói HQ-4 dùng mũi tàu để ủi tàu Trung Cộng ra xa đảo Hoàng Sa là chuyện không đúng sự thật và cũng không thể nào làm như vậy được. Cũng như phóng đồ kế hoạch điều quân của ông Dân cho thấy HQ-4 và HQ-5 tiến vào lòng chảo để tác chiến cũng là không thật nữa. Hướng tiến quân của HQ-4, HQ-5 vào lòng chảo chính là hướng tiến quân của HQ-10. Ông Dân đưa thêm HQ-4, HQ-5 vào cho đủ bộ thành trật lất. Sự thật là HQ-4 và HQ-5 chỉ ở vòng ngoài chứ không tham dự trận chiến trong lòng chảo.

Nếu HQ-4 và HQ-5 có mặt trong lòng chảo thì khi HQ-16 và HQ-10 bị trúng đạn thì HQ-4 và HQ-5 làm gì không thấy ông Dân nói đến !

Description: elevant images

Trên đây là các điểm tôi muốn đính chính về bài viết của Trung úy Đào Dân. Và sau đây là những gì xảy ra trong trận chiến mà tôi đã chứng kiến. Trước khi nói đến trận đánh, tôi xin sơ lược về quần đảo Hoàng Sa.

Quần đảo Hoàng Sa (gọi chung là Paracels) cách bờ biển Đà Nẵng 180 hải lý về phía đông. Như quí vị thấy trong bản đồ, quần đảo Hoàng Sa gồm một số đảo ghi trong bản đồ quây quần nhau làm thành một lòng chảo, muốn vào bên trong lòng chảo đó phải theo hai lộ trình mà chúng tôi thường gọi là cái « pass ». Một cái ở giữa đảo Hoàng Sa và đảo Cam Tuyền. Cái kia ở giữa bãi đá ngầm Antelope và đảo Quang Hòa.

Bản đồ này tỷ lệ xích quá nhỏ nên các đảo chỉ bằng lóng tay hay chỉ là những dấu chấm. Hoàng đảo Hoàng Sa không chỉ có bấy nhiêu đảo trong bản đồ mà còn một số đảo khác nữa nằm rải rác ở phía đông bắc. Những đảo trong bản đồ là những đảo tận cùng phía nam của quần đảo Hoàng Sa . Nhìn vào bản đồ, quí vị thấy các đảo rời nhau, có khoảng trống ở giữa, những tàu bè không chạy qua được vì đá ngầm và san hô ở dưới mặt nước, chỉ ra vào lòng chảo bằng hai cái « pass » tôi nói ở trên.

Quần đảo Hoàng Sa có đảo lài, có đảo cao nhưng cũng chỉ cao hơn mặt biển chừng vài chục thước. Các đảo phần nhiều trơ trụi, hiếm có cây cao, toàn đá lởm chởm, chỗ cao chỗ thấp, ít có nơi bằng phẳng. Gần bờ thì có đá ngầm, san hô. Hết đá ngầm, san hô thì biển rất sâu. Đáy biển cũng có đá nên neo tàu không an toàn. Quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa không thể lập căn cứ hải quân được vì không có chổ ẩn núp cho tàu bè, chỉ có thể lập căn cứ trên đảo mà thôi.

Tất cả các đảo đều không có nước ngọt, trừ đảo Hoàng Sa mà chúng tôi thường gọi là « đảo khí tượng » vì có đài khí tượng do người Pháp thiết lập và sau này luôn luôn có nhân viên khí tượng Việt Nam làm việc cho đến ngày trận chiến Hoàng Sa xảy ra. Người Pháp xây một hồ chứa nước bên trong nhà, có các máng xối hứng nước mưa chuyền vào bên trong hồ chứa để dùng cho cả năm.

Trên đảo Hoàng Sa mấy năm đầu tiên có một trung đội Thủy Quân Lục Chiến trấn giữ. Về sau vì nhu cầu chiến trận, Thủy Quân Lục Chiến phải rời đảo và được thay thế bởi Địa Phương Quân của tiểu khu Quảng Nam. Họ phải ở trên đảo Hoàng Sa vì chỉ đảo này mới có nước ngọt. Thủy Quân Lục Chiến hay Địa Phương Quân đều được trang bị xuồng cao su để di chuyển quanh các đảo mà kiểm soát.

Sau khi biết tổng quát vị trí các đảo, quí độc giả có thể theo dõi diễn tiến trận chiến Hoàng Sa sau đây. Tôi cũng xin thưa trước là những gì xảy ra tôi không nhớ chính xác giờ giấc, chỉ phỏng chừng. Nhưng những sự kiện thì xác thực. Ngày giờ và sự kiện xảy ra đều có ghi trong «nhật ký hải hành» và «nhật ký chiến hạm» nhưng nay không có thể tham khảo được.

Ngày 15 tháng 1 năm 1974 tàu tôi, HQ-16, được lệnh ra công tác đảo Hoàng Sa, chở theo một cố vấn Mỹ và một Thiếu tá bộ binh thuộc Quân đoàn 1 (mà nay tôi không còn nhớ tên).

Tàu khởi hành tối ngày 15 tháng 1 năm 1974 và đến Hoàng Sa sáng 16 tháng 1 năm 1974. Khi đến nơi, Địa Phương Quân trên đảo thấy tàu đã lái xuồng ra đón viên Thiếu tá Bộ binh lên đảo. Trong khi chờ đợi đưa Thiếu tá Bộ binh về lại Đà Nẵng, tôi vận chuyển tàu rời đảo Hoàng Sa ra biển, thả trôi tàu gần đảo Quang Hòa. Tôi lấy ống nhòm nhìn lên các đảo chung quanh để ngắm nhìn phong cảnh và tiêu khiển thì giờ.

Khi nhìn lên đảo Quang Hòa thì thấy có một dãy nhà sườn gỗ còn đang xây cất dở dang, chỉ có sàn nhà, chưa có mái. Tôi thấy lạ, liền gọi máy về Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải (BTL/HQ/VIZH) hỏi thì nơi đây hỏi lại tôi là có biết người nào trên đó không? Tôi trả lời chỉ thấy bốn, năm người di chuyển tới lui nơi dãy nhà đang xây cất chứ không biết là ai. Họ ăn mặc thường dân, có người ở trần, nhưng có nhà xây cất thì chắc là người ngoại quốc mà không ai khác hơn là Trung Cộng, vì cách đảo Quang Hòa chừng 20 hải lý về phía đông bắc có căn cứ của Trung Cộng, cũng nằm trong quần đảo Hoàng Sa.

HQ-16 vẫn thả trôi tàu để chờ Thiếu tá Bộ binh và chờ lệnh từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải.

Trưa ngày 16 tháng 1 năm 1974 một chiến hạm Trung Cộng xuất hiện trong vùng.

Tối ngày 17 tháng 1 năm 1974 Bộ Tư Lệnh Hải Quân gởi ra một toán người nhái do HQ-4 chở ra. Toán người nhái này rời HQ-4 bằng xuồng cao su để lên HQ-16.

Sáng ngày 18 tháng 1 năm 1974 HQ-5 và HQ-10 có mặt ở khu vực Hoàng Sa. Đại tá Hải quân Hà Văn Ngạc ở trên HQ-5 là người chỉ huy cuộc chiến.

HQ-5 do Trung tá Phạm Trọng Quỳnh (khoá 11) chỉ huy.

HQ-16 do tôi, Trung tá Lê văn Thự (khoá 10) chỉ huy.

HQ-4 do Trung tá Vũ Hữu San (khoá 11) chỉ huy.

HQ-10 do Thiếu tá Ngụy Văn Thà (khoá 12) chỉ huy.

Khoảng 10 giờ sáng ngày 18 tháng 1 năm 1974 Đại tá Hà Văn Ngạc ra lệnh cho tôi đưa viên cố vấn Mỹ lên đảo Hoàng Sa, sau đó cho toán người nhái đổ bộ lên đảo Quang Hòa và một toán của HQ-16 lên giữ đảo Vĩnh Lạc.

Sau khi đưa viên cố vấn Mỹ lên đảo Hoàng Sa, tôi vận chuyển HQ-16 bên trong lòng chảo để đến gần đảo Quang Hòa đổ bộ toán người nhái lên đảo thì một tàu Trung Cộng xuất hiện, cản trước mũi, không cho tàu tôi tiến gần đến đảo (xin xem hình 1).

Tôi phải ngưng máy, vận chuyển để tránh đụng tàu. Nhưng cả hai tàu cũng cọ vào nhau làm dẹp một số trụ căng dây an toàn chung quanh tàu Trung Cộng và làm rách bè nổi của tàu Trung Cộng. Nhờ xáp lại gần, tôi thấy tàu Trung Cộng số hiệu 271, dài chừng 70 mét, có súng tương đương với súng 76.2 ly, 40 ly, 20 ly và đại liên 12.7 của tàu tôi. Tàu Trung Cộng nhỏ hơn tàu tôi nhưng vận chuyển nhanh nhẹn hơn.

Tôi báo cáo với Đại tá Ngạc những gì xảy ra. Sau đó tôi lái tàu ra khỏi lòng chảo và đổ bộ toán người nhái vào mặt ngoài biển (mặt nam) của đảo Quang Hòa vào chiều ngày 18 tháng 1 năm 1974.

HQ-16 chỉ ở cách xa bờ một, hai hải lý rồi người nhái thả xuồng cao su có trang bị máy mà chạy vào bờ chứ HQ-16 không thể vào sát bờ được vì đá ngầm và san hô. Toán người nhái rời tàu chừng non một tiếng thì gọi máy báo cáo là ở trong bờ bắn ra. Tôi hỏi người liên lạc máy là có thấy người ở trên bờ không và các anh đã lên được bờ chưa? Họ trả lời là đang lội nước ngang ống chân, còn vài chục thước nữa mới tới bờ. Họ cũng cho biết là không thấy người trên bờ.

Vài phút sau thì nghe báo cáo là một Thiếu úy người nhái bị bắn chết. Họ xin rút lui vì không thể vào bờ an toàn được. Tôi báo cáo với Đại tá Ngạc và xin cho người nhái rút lui. Toán người nhái đã trở về lại HQ-16.

Chiều ngày 18 tháng 1 năm 1974, khoảng 6 giờ, Đại tá Ngạc gọi máy cho tôi và ra lệnh cho tôi chỉ huy HQ-10, bằng mọi giá phải đổ bộ cho được toán người nhái lên đảo Quang Hòa. Sau khi đại tá Ngạc ra lệnh này xong, thì từ đó về sau tôi không còn nghe lệnh lạc gì thêm từ Đại tá Ngạc nữa.

Đến tối ngày 18 tháng 1 năm 1974 máy liên lạc âm thoại giai tần đơn bị Trung Cộng phá rối tần số, không liên lạc được. Tôi không thể gọi Đại tá Ngạc, HQ-4 hay bộ tư lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải. Tôi chỉ liên lạc được với HQ-10 bằng máy PRC-45 là loại máy truyền tin xách tay, chỉ liên lạc được trong vòng 10 hải lý.

Sau khi nhận lệnh, tôi nghĩ chỉ còn cách đổ bộ toán người nhái vào ban đêm mới may ra lên được đảo, nhưng chưa chắc toán người nhái đã vào trót lọt được vì có thể tàu Trung Cộng theo dõi và liên lạc chỉ điểm cho người của họ trên đảo canh chừng để bắn khi người nhái vào bờ. Ngoài ra thức ăn, nước uống không có, làm sao toán người nhái có thể hoạt động lâu hơn một ngày được, và ít nhất cũng phải có một tiểu đội hay trung đội Thủy Quân Lục Chiến đổ bộ gần bờ yểm trợ cho toán người nhái khi họ rút lui nếu bị phát hiện hay khi gặp lực lượng địch mạnh hơn. Vì thế, muốn thi hành lệnh của Đại tá Ngạc, tôi nghĩ chỉ còn cách là phải tiêu diệt tàu Trung Cộng trước rồi mới tính chuyện đổ bộ người nhái lên đảo sau.

Lúc này phía Trung Cộng xuất hiện thêm hai chiếc tàu nữa cùng loại với chiếc đã có trước.

Tôi gọi Thiếu tá Thà HQ-10 và nói ý định của tôi: Đêm nay HQ-16 và HQ-10 ra thật xa đảo, làm tối chiến hạm (không cho ánh sáng lọt ra ngoài) để tàu Trung Cộng không biết chúng tôi ở đâu. Sáng mai (19 tháng 1 năm 1974) sẽ tiến vào lòng chảo. HQ-16 vào cái “pass” gần đảo Hoàng Sa, HQ-10 vào cái “pass” gần đảo Quang Hòa (xin xem hình 2).

Tôi cũng nói với Thiếu tá Thà là anh cũng như tôi, phải cố gắng hết sức mình. Nếu một trong hai đứa mà loạng quạng, chỉ còn lại một, thì bọn chúng (ba chiếc tàu Trung Cộng) xúm lại, mình không thể nào chống nổi.

Đêm hôm đó (18 tháng 1 năm 1974) khoảng nửa đêm, tôi tập họp thủy thủ đoàn HQ-16 để thông báo ngày mai sẽ tiến vào đánh tàu Trung Cộng. Tôi cũng nói với thủy thủ đoàn là tất cả mọi người phải can đảm, cố gắng hết sức mình, ai làm phần việc của mình cũng phải nhanh nhẹn, chính xác mới mong thắng và còn sống. Nhất là các ổ súng và toán phòng tai phải lo chuẩn bị trước, xem xét lại súng ống, đạn nước phải đem từ hầm đạn lên để sẵn ở các ụ súng, ống nước cứu hoả phải trải sẵn ra. Máy bơm nước phải sẵn sàng.

Sáng ngày 19 tháng 1 năm 1974 HQ-16 và HQ-10 tiến vào lòng chảo như dự định. Tôi gọi máy cho Thiếu tá Thà và nói là nếu chừng nào thấy tôi khai hỏa là phải khai hỏa theo liền.

Khi HQ-16 và HQ-10 qua khỏi hai cái “pass” và vừa tầm súng, tôi quay ngang tàu HQ-16 đưa phía hữu hạm của HQ-16 hướng về ba tàu Trung Cộng. Mục đính của tôi là để tận dụng tất cả súng từ mũi ra sau lái. Nếu hướng mũi tàu về phía tàu Trung Cộng thì chỉ sử dụng được hỏa lực ở phía trước mũi thôi.Với lợi thế sử dụng tối đa hỏa lực nhưng cũng có cái bất lợi là hứng đạn của địch nhiều hơn. Nhưng vì tôi đánh phủ đầu tàu Trung Cộng nên phải sử dụng tối đa hỏa lực. So với tàu Trung Cộng, tàu tôi có đủ loại súng tàu Trung Cộng có, ngoài ra còn có thêm khẩu 127 ly mà tàu Trung Cộng không có. HQ-10 chỉ có hỏa lực ngang bằng tàu Trung Cộng.

Description: http://chinhnghia.com/HOANGSALVT.jpg

Khi đang tiến vào lòng chảo, tôi đã mừng thầm khi thấy ba tàu Trung Cộng đều ở trong lòng chảo, tức là những mục tiêu tốt cho HQ-16 và HQ-10 tác xạ. Nếu chúng ở rải rác, chiếc trong chiếc ngoài lòng chảo thì tôi cũng chưa biết tính sao vì tàu Trung Cộng tuy nhỏ nhưng linh động hơn, nếu chúng ra ngoài biển thì khó bắn trúng hơn vì nó nhỏ và chạy nhanh, còn tàu tôi lại là mục tiêu tốt cho tàu Trung Cộng vì to con nên nặng nề, chậm chạp nên dễ lãnh đạn hơn. Nhưng nay thì cả ba tàu địch bị vây trong vòng chảo vì hai cái “pass” đã bị HQ-16 và HQ-10 chặn rồi.

Khi đã ở đúng vị trí và vị thế dự định (xin xem hình 2), HQ-16 cách HQ-10 chừng một hải lý, hai tàu HQ-16 và HQ-10 cách ba tàu Trung Cộng từ 3 đến 4 hải lý, tôi ra lênh lần chót: các ổ súng phải luôn luôn theo dõi mục tiêu, mục tiêu nào thuận lợi thì bắn mục tiêu đó. Sau khi hỏi tất cả các ổ súng đã sẵn sàng chưa, tôi ra lệnh khai hỏa.

HQ-16 và HQ-10 đứng yên một chỗ còn ba tàu Trung Cộng di chuyển loanh quanh sát vòng cung lòng chảo gần đảo Duy Mộng và bắn trả chúng tôi.

Tôi hy vọng trong 5,10 phút là triệt hạ được tàu Trung Cộng vì khai hỏa trước và sử dụng tối đa hỏa lực trong khi tàu Trung Cộng bị tấn công bất ngờ vì ngày hôm trước, tàu tôi bị họ chặn, tôi bỏ đi mà không có gì xảy ra nên họ không ngờ rằng tôi sẽ tấn công họ.

Mười phút trôi qua mà chưa thấy tàu Trung Cộng hề hấn gì, tôi bắt đầu sốt ruột, trong khi đó tôi nghe tiếng lách tách, lép bép trên trời như tiếng pháo bông, giữa tàu tôi và HQ-10 và về phía HQ-10 nhiều hơn. Tôi nghĩ chắc là đạn thời chỉnh tức là đạn tự động nổ mà không cần chạm mục tiêu. Trận chiến vẫn tiếp tục. Chừng khoảng phút thứ 20 hay 30, tôi thấy một tàu Trung Cộng bốc khói, một tàu khác có thể bị trúng đạn làm hư hệ thống tay lái nên tàu cứ xoay quanh như gà trống chạy lòng vòng trước khi đạp mái.

Tiếp đến HQ-10 báo cáo Hạm trưởng bị thương. Tôi ra lệnh Hạm phó lên thay quyền chỉ huy, đồng thời đặt ống nhòm nhìn sang HQ-10 tôi thấy một ngọn lửa nhỏ cháy ở đài chỉ huy có thể dập tắt được bằng bình CO2 mà sao không ai làm. Quan sát phía sau lái HQ-10 tôi thấy 4, 5 cái đầu nhấp nhô trên mặt biển. Tôi không biết chuyện gì xảy ra trên HQ-10 vì không nghe báo cáo gì thêm. Tôi đoán chừng vì Hạm trưởng bị thương nặng nên HQ-10 như rắn mất đầu. Một số nhỏ nhát gan sợ tàu cháy hay trúng đạn nổ nên đã nhảy xuống biển. Nhưng HQ-10 vẫn nổi bình thường, thăng bằng, không nghiêng một chút nào cả.

Sau đó hầm máy hữu HQ-16 báo cáo trúng đạn ở lườn tàu dưới mặt nước. Nước tràn vào tàu.Trung sĩ điện khí Xuân bị thương. Nhân viên cứu hỏa tìm cách bít lỗ thủng. Chừng vài phút sau, tàu bắt đầu nghiêng. Hầm máy báo cáo lỗ thủng bít không được vì nước vào quá mạnh, chỗ thủng nằm trong kẹt không có chỗ cho nhân viên cứu hỏa xử dụng đà chống để chặn tấm bố và tấm gỗ bít lỗ thủng. Nước ngập đến đầu gối. Tôi ra lệnh nếu không bít được lỗ thủng thì đóng nắp hầm máy lại đừng cho nước chảy ra khỏi hầm máy. (Tôi nhớ hầm máy hữu trúng đạn mà trong bài viết của ông Dân thì lại viết là hầm máy tả !).

Tàu chỉ còn một máy tả và một máy điện, phòng vô tuyến liên lạc truyền tin bị gián đoạn vì mất điện. Nhận thấy tình thế không thể tiếp tục chiến đấu được nữa, tôi vận chuyển tàu quay trở ra theo cái “pass” đẻ rời lòng chảo.

Tàu mỗi lúc một nghiêng thêm (trên 10°) và chỉ còn một máy nên vận chuyển rất khó khăn. Hầm máy hữu báo cáo nhân viên phải rời hầm máy vì tàu sắp chìm.

Thấy độ nghiêng của tàu đến mức gần hết độ an toàn, có thể tàu sẽ lật, nên tôi ra lệnh: toàn thể nhân viên vào nhiệm sở đào thoát vì sợ họ không còn thì giờ đào thoát kịp. Ra lệnh xong, tôi nắm lấy tay lái tiếp tục lái thay cho nhân viên ra nhiệm sở.

Trong khi tôi đang lái thì Đại úy Hiệp, cơ khí trưởng, chạy lên đài chỉ huy, nói với tôi: “Vì sao hạm trưởng cho nhiệm sở đào thoát? Tôi đang ráng làm cân bằng tàu”. Tôi nói là tàu mỗi lúc một nghiêng thêm, không biết sẽ lật chìm lúc nào nên phải chuẩn bị đào thoát.

Lúc này tàu nghiêng đã đến độ bão hòa (không nghiêng thêm nữa) vì nước đã vào đầy hầm máy. Tôi cho giải tán nhiệm sở đào thoát và vào lại nhiệm sở tác chiến. Lúc này ở đài chỉ huy có Trung úy Đoàn Viết Ất, tôi nói với Trung úy Ất: “Tàu nghiêng như thế này, khó mà lái ra biển an toàn được, chắc tôi phải ủi tàu vào đảo khí tượng (đảo Hoàng Sa) để cố thủ và chờ HQ-4, HQ-5 tiếp viện”.

Trung úy Ất nói với tôi: “Xin Hạm trưởng đừng ủi tàu vào đảo khí tượng. Mình sẽ bị Trung Cộng bắt làm tù binh. Làm tù binh Trung Cộng thì kể như chết rục xương trong tù, không còn thấy cha mẹ, vợ con, quê hương xứ sở. Xin Hạm trưởng cứ lái ra biển. Tàu có chìm thì đào thoát vẫn còn cơ may sống sót. Nếu chết thì chết trên biển vẫn sướng hơn”.

Bây giờ viết lại câu nói này của Trung úy Ất tôi vẫn còn xúc động đến chảy nước mắt. Nghe Trung úy Ất nói, tôi suy nghĩ thêm: Nếu tôi cứ ủi vào đảo khí tượng thì cũng không thể nào ủi sát vào bờ được vì gần bờ đá ngầm rất nhiều. Nếu ủi, tàu sẽ mắc cạn, lườn tàu sẽ bị đá ngầm rạch nát, nước sẽ vào thêm, tàu sẽ hoàn toàn tê liệt mà thủy thủ đoàn cũng không thể nào lên đảo được. Do đó tôi tiếp tục lái tàu ra khỏi “pass” đồng thời ra lệnh nhân viên hướng súng về đằng sau và về phía quần đảo Hoàng Sa canh chừng tàu Trung Cộng truy kích theo.

Khi rời Hoàng Sa, tôi hết sức ân hận đã bỏ lại trên đảo một toán nhân viên 8 người do Trung úy Liêm chỉ huy khi có lệnh đưa nhân viên lên giữ đảo. Trung uý Liêm và toán nhân viên sau đó đã mạo hiểm vượt biển bằng bè vì không muốn Trung Cộng bắt làm tù binh. Sau hơn mười ngày lênh đênh trên biển, bè trôi về tận ngoài khơi Qui Nhơn, được ngư phủ cứu và đưa vào bệnh viện Qui Nhơn cấp cứu. Họ vượt biển mà không chuẩn bị thức ăn nước uống nên Hạ sĩ quản kho Nguyễn Văn Duyên đã chết vì kiệt sức khi đưa vào Qui Nhơn.

Ra khỏi “pass” tôi hướng tàu về Đà Nẵng, lúc này khoảng 5 – 6 giờ chiều ngày 19 tháng 1 năm 1974. Tàu chỉ còn một máy và nghiêng nên chạy chậm. Khi trời bắt đầu tối, tàu cách Hoàng Sa chừng 15 hải lý. Lúc này tôi mới thở ra nhẹ nhõm vì chắc tàu Trung Cộng cũng bị thương tích cả người lẫn tàu nên không truy kích tàu tôi.

Bây giờ mối lo khác lại đến với tôi là tàu có thể lật chìm bất cứ lúc nào nếu có sóng chếch xuôi rất dễ làm tàu lật. Tôi cho nhân viên chuẩn bị các bè nổi, xem xét lại cách xử dụng để khi hữu sự thì làm cho nhanh chứ khi tàu lật thì không có thì giờ mà mò mẫm.

Lúc này hệ thống truyền tin vừa được sửa chữa xong. Nhân viên vô tuyến báo cáo tình trạng chiến hạm về Bộ Tư lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải, nhưng không thấy HQ-4 và HQ-5 lên tiếng.

Một  tin làm bàng hoàng mọi người trên chiến hạm là Trung sĩ Điện khí Xuân trút hơi thở cuối cùng vì vết thương quá nặng mà không được săn sóc đúng mức.

Đại úy Hiệp mang họa đồ chiến hạm các khoang hầm trên tàu lên đài chỉ huy cho tôi biết đã làm cân bằng tàu bằng cách bơm nước và dầu từ hầm này sang hầm khác và dồn về phía tả hạm, nhưng tàu cũng không bớt nghiêng bao nhiêu. Đại úy Hiệp nói: “Bây giờ chỉ còn cách bơm xả nước ngọt và dầu ra biển may ra mới làm tàu bớt nghiêng”. Xả nước ngọt và dầu ra biển thì tôi rất ngại mà cũng không chắc là khi xả xong tình trạng có khá hơn không hay lại tệ hơn vì phải biết trọng tâm con tàu trước và sau khi xả nằm ở đâu rồi mới dám làm.

Học môn lý thuyết thuyền bè trong trường Hải Quân nhưng ra trường lâu ngày và gặp lúc hữu sự, lại không còn nhớ cách tính trọng tâm con tàu nên tôi không dám bảo Đại úy Hiệp làm và giữ nguyên tình trạng như vậy mà chạy về Đà Nẵng. Cũng may nhờ biển rất êm nên không có gì xảy ra.

Description: mage results for The Battle of the Paracel Islands

Sáng 20 tháng 1 năm 1974, khoảng 7 – 8 giờ, tàu vào vịnh Tiên Sa Đà Nẵng nhưng tôi không vận chuyển cặp cầu được. Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải phải xin tàu dòng từ Ty Thương Cảng Đà Nẵng, kẹp ngang hông HQ-16 mà cặp cầu quân cảng Đà Nẵng.

Cặp cầu xong, Thủy xưởng Đà Nẵng sang bơm dầu, nước ngọt ra, làm nhẹ tàu cho tàu nổi lên rồi tìm cách bít tạm lỗ thủng dưới nước (do người nhái lặn xuống nước mà bít, tôi nhớ như vậy không biết có đúng không?). Sau đó bơm nước ngập hầm máy ra và hàn lại lỗ thủng ở hầm máy.

Ngày hôm sau, Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải xin toán tháo gỡ đạn dược từ Quân đoàn I sang để tháo gỡ viên đạn còn nằm lại trên tàu. Viên đạn được bắn vòng cầu, rơi xuống nước gần HQ-16, do tốc độ của viên đạn nên khi xuống nước gặp sức cản của nước, viên đạn không đi thẳng xuống nước mà bị lệch hướng rồi đâm vào lườn tàu HQ-16 dưới mặt nước. Viên đạn vẫn còn tốc độ di chuyển, xướt qua một góc máy điện, xuyên đứt tay Trung sĩ điện khí Xuân kế đó rồi chui vào kho điện khí ở một góc hầm máy và nằm ở đó. May là viên đạn không nổ, chứ nổ thì HQ-16 chìm tại chỗ!

Lấy được viên đạn ra, toán tháo gỡ đạn dược ngạc nhiên cho biết rằng viên đạn “made in USA” và cỡ 127 ly. Sau này truy ra mới biết là đạn do HQ-5 bắn.

Sau khi sửa chữa xong, sơn phết lại, làm sạch sẽ, chiến hạm HQ-16 được lệnh về Sài Gòn làm lễ tiếp đón chiến hạm trở về từ Hoàng Sa. Phần thượng tầng kiến trúc của chiến hạm bị lỗ chỗ các lỗ thủng do đạn 40 ly và 20 ly bắn vào vẫn để y nguyên, mục đích cho dân chúng Sài Gòn ai tò mò muốn xem chiến hạm dự trận Hoàng Sa về ra sao, khi lên tàu xem sẽ thấy dấu tích còn để lại trên tàu. Tàu cặp cầu B ở bến Bạch Đằng.

Trong buổi lễ tiếp đón, tôi cùng 4 – 5 nhân viên được Tư Lệnh Hải quân gắn huy chương. Sau buổi lễ dân Sài Gòn được lên xem tàu.Và phóng viên BBC là ông Tôn Thất Kỳ phỏng vấn tôi. Ông hỏi tôi có thấy máy bay phản lực Trung Cộng dự chiến trong trận Hoàng Sa không? Tôi trả lời là tôi không thấy.

Ngày hôm sau, Khối Chiến Tranh Chính Trị Bộ Tư Lệnh Hải Quân (lúc đó Đại tá Trần Văn Triết làm trưởng khối thì phải), phái một Thiếu úy hay Trung úy (mà tôi không nhớ tên hay cấp bậc), xuống HQ-16. Anh ta nói với tôi “Tại sao Hạm trưởng trả lời phỏng vấn đài BBC là không thấy phản lực cơ Trung Cộng?”

Tôi trả lời vị sĩ quan đó: “Anh về nói lại trên Bộ Tư Lệnh là tôi không thấy nên tôi trả lời không có. Nếu Bộ Tư Lệnh muốn tôi nói có thì phải báo trước cho tôi biết”.

Tôi nghĩ nguồn tin này do Đại tá Ngạc báo cáo về Bộ Tư Lệnh Hải Quân nên Bộ Tư Lệnh Hải Quân muốn tôi trả lời phỏng vấn cho phù hợp với nguồn tin. Cũng như Đại tá Ngạc báo cáo về Bộ Tư Lệnh Hải Quân: HQ-10 và HQ-16 mất tích.

Description: http://chinhnghia.com/su-tha5.jpg

Lúc HQ-16 về Sài Gòn, tôi nghe nói lại (không biết có đúng không) là khi nhận được tin HQ-16, HQ-10 mất  tích, Đại tá Võ Sum, Trưởng khối Truyền tin Hải quân, đã dùng con lắc (một loại dụng cụ cảm ứng) để xem thử HQ-16 còn hay mất. Tôi không nghe nói kết quả của việc dùng con lắc này.

II

Sau khi trình bày chi tiết những gì xảy ra trong trận Hoàng Sa, tôi xin nêu lên những nhận xét của tôi về trận chiến này:

1. Trong trận Hải chiến Hoàng Sa, Hải Quân Việt Nam không có loại tàu thích hợp cho trận chiến. HQ-5, HQ-16, HQ-10 là loại tàu cồng kềnh, vận chuyển chậm, súng quay bằng tay nên theo dõi mục tiêu khó khăn cũng như nhịp bắn chậm. Chỉ có HQ-4 là tối tân nhất, các súng đều sử dụng bằng điện, tốc độ bắn nhanh, radar có tầm xa, vận tốc chiến hạm cao. Nhưng HQ-4 lại không xung trận.

Lúc trước sở phòng vệ Duyên Hải ở Đà Nẵng có loại tàu PT chuyên đi bắn phá phía bắc vĩ tuyến 17 là loại chiến hạm thích hợp với trận chiến Hoàng Sa. Nhưng tôi nghe nói Hoa Kỳ đã thu hồi lại loại tàu này khi họ rút quân khỏi Việt Nam, trước ngày trận chiến Hoàng Sa xảy ra.

2. Không có kế hoạch hành quân. Kể từ khi có mặt ở Hoàng Sa, tôi chỉ có biết một lệnh duy nhất từ Đại tá Ngạc qua máy âm thoại, chỉ định tôi chỉ huy HQ-10 và có nhiệm vụ phải đổ bộ toán người nhái, mà trong bài viết của ông, ông gọi là Biệt Đội Hải Kích, lên đảo Quang Hòa bằng bất cứ giá nào. Ngoài ra tôi không biết gì về hoạt động của HQ-4 và HQ-5 cũng như nhiệm vụ của họ.

Gần đây đọc bài “Tường Thuật Trận Hải Chiến Lịch Sử Hoàng Sa” của Đại tá Ngạc, tôi mới biết là ông chia bốn chiến hạm thành hai phân đoàn:

• Phân đoàn I gồm HQ-4 và HQ-5 (Đại tá Ngạc ở trên HQ-5), do Hạm trưởng HQ-4 chỉ huy là nổ lực chính.

• Phân đoàn II gồm HQ-10 và HQ-16 do Hạm trưởng HQ-16 chỉ huy là nổ lực phụ.

Nội việc chỉ định Hạm trưởng HQ-4 chỉ huy Phân đoàn I là sai nguyên tắc chỉ huy, vì Đại tá Ngạc ở trên HQ-5, như vậy thì Hạm trưởng HQ-4 (Trung tá Vũ Hữu San) chỉ huy luôn cả Đại tá Ngạc sao? Đại tá Ngạc là người chỉ huy trận chiến thì phải kiêm luôn chỉ huy Phân đoàn I mới đúng. Suốt trận chiến, HQ-4 và HQ-5 làm gì tôi không được biết. Và cho đến lúc rời Hoàng Sa về Đà Nẵng, tôi chẳng thấy HQ-4 và HQ-5 đâu.

Sau trận chiến, tôi thấy phải đổi lại Phân đoàn I (gồm HQ-4 và HQ-5) là nỗ lực phụ. Phân đoàn II (gồm HQ-10 và HQ-16) mới đúng vì Phân đoàn II trực chiến với tàu Trung Cộng trong lòng chảo, trong khi Phân đoàn I chỉ ở bên ngoài “wait and see”. Và vì quá lo sợ Trung Cộng nên tin chắc thế nào Phân đoàn II cũng bị đánh chìm, Đại tá Ngạc mới ra lệnh HQ-5 bắn vào lòng chảo 5-7 phát trước khi rút lui. Tôi không trách HQ-4 và HQ-5 vì họ chịu sự điều động của Đại tá Ngạc.

Description: http://chinhnghia.com/su-tha4.jpg

Vì không có kế hoạch hành quân nên máy truyền tin bị Trung Cộng phá rối không liên lạc được mà không có tần số dự trù thay thế.

3. Muốn thanh toán quân Trung Cộng trên đảo (tôi nghĩ không nhiều, chừng một tiểu đội) mà dự định đổ bộ một toán người nhái 9, 10 người thì khó mà thành công. Phải có 1, 2 tiểu đội Thủy Quân Lục Chiến tăng cường yểm trợ mới được. Cần thêm xuồng cao su để đổ bộ quân, tiếp tế lương thực, nước uống và vật dụng.

4. Ra lệnh đưa quân lên giữ đảo mà không cung cấp lương thực, nước uống đầy đủ. Thủy thủ đoàn không có kinh nghiệm tác chiến trên bộ, chỉ có súng cá nhân và một ít đạn bắn chừng nửa tiếng là hết, làm sao giữ được đảo. Nếu chiến hạm bận tác chiến hay bị thiệt hại thì số quân nhân đưa lên đảo phải bị bỏ rơi như trường hợp HQ-16. Đúng là lệnh lạc kiểu mang con bỏ chợ. Phải có kế hoạch đưa Bộ binh hay Thủy Quân Lục Chiến giữ đảo và phải có kế hoạch tiếp tế.

5. Không có bác sĩ trên chiến hạm, chỉ có y tá không kinh nghiệm cứu thương cũng như ngoài khả năng của họ nên ai bị thương thì khó mà sống sót.  

6. Trận chiến Hoàng Sa rất giản dị, chẳng có chiến thuật gì rắc rối, phức tạp cả. Tôi chỉ khai thác sơ hở của ba chiến hạm Trung Cộng tập trung một chỗ trong lòng chảo để tấn công. Nếu thủy thủ đoàn HQ-10 và HQ-16 có kinh nghiệm tác xạ, HQ-16 không bị trúng đạn của HQ-5 và Hạm trưởng HQ-10 không bị thương thì chắc chắn ba tàu Trung Cộng phải bị đánh chìm. Tôi còn nghi vấn về Hạm trưởng HQ-10 bị thương là do đạn thời chỉnh của Trung Cộng hay của HQ-4, HQ-5 ?

7. Sau trận chiến, Bộ Tư Lệnh Hải Quân hay ít nữa là Bộ Tư Lệnh Hạm Đội cần có một buổi hội gồm các cấp chỉ huy các đơn vị tham dự trận chiến để mỗi người trình bày những hoạt động của đơn vị mình, nói lên những nhận xét để rút kinh nghiệm học hỏi, cùng những đề nghị nếu được áp dụng thì trận chiến sẽ có kết quả tốt hơn để mọi người cùng thảo luận. Đằng này mọi chuyện đều cho trôi xuôi luôn.

Bài viết của tôi đến đây xem như đã trình bày xong trận chiến Hoàng Sa, nhưng cũng xin nối tiếp thêm bài viết “Tường thuật trận hải chiến lịch sử” của Đại tá Hà Văn Ngạc.

Toàn bài viết của Đại tá Ngạc từ đầu đến cuối là sai sự thật. Những điều ông nói khó mà kiểm chứng. Chỉ những người ở trên HQ-4, HQ-5, HQ-10 và HQ-16 mới thấy là hoàn toàn do óc tưởng tượng dàn dựng ra. Tôi chỉ nêu lên một số chi tiết mà tôi thấy vô lý hoặc có liên hệ đến tôi mà sai sự thật.

Ông viết: “Bất thần về phía đông vào khoảng 11 giờ 25 sáng, cách xa chừng 8 đến 10 hải lý, xuất hiện một chiến hạm của Trung Cộng loại có trang bị mỗi bên một giàn phóng kép hỏa tiễn loại hải – hải đang tiến vào vùng giao tranh”. Cách xa chừng 8 đến 10 hải lý khó mà thấy được mỗi bên một giàn phóng hỏa tiễn. Chỉ tưởng tượng thôi!

Sau đó cũng chẳng thấy ông nói đến chiến hạm Trung Cộng này làm gì. Ngoài ra ông còn lo sợ cả phản lực cơ và tiềm thủy đỉnh Trung Cộng. Vì quá lo sợ nên không còn tinh thần để chiến đấu nữa. Ông Ngạc viết: “Khoảng 7:00 sáng ngày 20 tháng 1, 1974 thì hai chiến hạm Phân đoàn I về tới căn cứ an toàn. Tuần dương hạm HQ-16 cũng đã về bến trước đó ít lâu …”.

Sự thực, sáng ngày 20 tháng 11 năm 1974, HQ-16 về đến quân cảng Đà Nẵng và sau đó chẳng thấy HQ-4 và HQ-5 ở Đà Nẵng. Chỉ một mình tôi lên trình diện Tư Lệnh Phó Hải Quân trong phòng hội của Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải để trả lời những câu hỏi liên quan đến tổn thất giữa địch và ta trong trận chiến.

Ông Ngạc viết: “Sau khi di tản các chiến sĩ thương vong và tử vong lên căn cứ thì chỉ có ba vị Đô đốc cùng Hải Quân Đại tá Nguyễn Viết Tân, chỉ huy trưởng Sở Phòng Vệ Duyên Hải lên Tuần dương hạm HQ-5 và vào phòng Hạm trưởng để dự cuộc thuyết trình về trận đánh. Ba vị Hạm trưởng (HQ-5, HQ-16 và HQ-4 – ghi chú của người viết) đều có mặt để trình bày chi tiết về chiến hạm của mình .v.v…”.

Tôi (Hạm trưởng HQ-16) đâu có mặt trên HQ-5 như Đại tá Ngạc viết.

Trong bài của ông có viết HQ-4, HQ-5 bị trúng đạn, thiệt hại khá nhiều, định chạy về Subic Bay Phi Luật Tân để xin Hoa Kỳ sửa chữa.

Sự thật HQ-4 và HQ-5 chẳng bị trầy một mảnh sơn nào cả. Cả Hải quân đều biết. Vì thế cho nên chỉ một mình HQ-16 được tiếp đón ở Sài Gòn và gắn huy chương chứ không có Đại tá Ngạc hay HQ-4 và HQ-5.

Trong bài viết “Biển Đông dậy sóng” của ông Trần Bình Nam, có câu: “Đại tá Ngạc biết có một cái gì đó sau lưng trận đánh nên đã dè dặt đôi lời trước khi viết rằng, … vân vân …”. Cái gì sau lưng đó, nay được ông Trần Bình Nam nói ra: Đó là chuyến công du Trung Quốc ngày 10 tháng 11 năm 1973 của ông Henry Kissinger mà nội dung ghi lại trong cuốn hồi ký chính trị “Years of Upheaval” và được ông Trần Bình Nam trích ra trong bài viết của ông ta. Đại khái là Hoa Kỳ bắt tay với Trung Cộng để chống lại Nga Sô và qua một vài câu dẫn chứng, ông Trần Bình Nam kết luận có lẽ có sự thỏa thuận giữa Mao, Chu và Kissinger để Trung Quốc chiếm quần đảo Paracels của Việt Nam Cộng Hòa.

Ông Trần Bình Nam viết: “Một tháng sau khi ông Kissinger rời Bắc Kinh, hải quân Trung Quốc lén lút đổ bộ quân lên chiếm một số đảo trong quần đảo Paracels và vân vân …” Phần tiếp theo của đoạn này chỉ dựa vào những chi tiết sai sự thật trong bài viết “Tường thuật trận hải chiến lịch sử Hoàng Sa” của Đại tá Ngạc. Như trước ngày trận chiến xảy ra, quân Trung Cộng đã chịu rời đảo mà họ đã chiếm khi có quân từ các chiến hạm Việt Nam đổ bộ chiếm lại đảo (Trung Cộng chỉ chiếm một đảo duy nhất là đảo Quang Hòa. Còn quân từ các chiến hạm chỉ đổ bộ lên các đảo không có quân Trung Cộng như đảo Cam Tuyền, Vĩnh Lạc. Toán người nhái đổ bộ lên đảo Quang Hòa nhưng bị bắn nên phải rút ra – lời người viết).

Những điều ông Trần Bình Nam viết chỉ là những phỏng đoán, chẳng có gì chứng tỏ được Hoa Kỳ ngầm thỏa thuận cho Trung Quốc chiếm Hoàng Sa. Ngược lại, theo nhận xét của tôi, khi dự trận chiến Hoàng Sa, tôi thấy Trung Cộng rất dè dặt trong việc xâm chiếm Hoàng Sa. Trước sau họ chỉ đưa ra vỏn vẹn có ba chiến hạm không thuộc loại tối tân, có thể vì họ ngần ngại có sự can thiệp của Hoa Kỳ. Họ không đưa ra một lực lượng hùng hậu để đánh chiếm Hoàng Sa vì họ sợ nếu Hoa Kỳ phản ứng thì sẽ thành lớn chuyện khó xử. Ngoài ra họ còn sợ dư luận thế giới nữa.

Ông Trần Bình Nam nói, nhờ Hoa Kỳ can thiệp nên Trung Cộng đã nhanh chóng trao trả (qua ngả Hồng Kông) số quân nhân và dân chính trên đảo Hoàng Sa cùng một số ít thủy thủ đoàn của HQ-10 còn sống sót. Tôi không chắc có phải do Hoa Kỳ can thiệp không. Theo tôi, Trung Cộng đã chiếm được đảo Hoàng Sa rồi thì sá gì mấy chục mạng người mà không trao trả. Giữ để làm gì? Không cần Hoa Kỳ can thiệp họ cũng tự động dàn xếp để trao trả, vừa được tiếng nhân đạo vừa xoa dịu sự công phẫn của dân chúng Miền Nam Việt Nam và có thể của cả dư luận thế giới nữa.

Có sự bắt tay giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng để hai bên rảnh tay chống lại Nga Sô nhưng không chắc có sự thỏa thuận của Hoa Kỳ để Trung Cộng chiếm Hoàng Sa. Có thể một trong những lý do Trung Cộng chiếm Hoàng Sa là để thăm dò mức độ hợp tác giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng sau khi đã ngầm bắt tay nhau. Trung Cộng chỉ cần đưa tới Hoàng Sa ba chiếm hạm để thăm dò vừa Hoa Kỳ vừa Việt Nam Cộng Hòa.

Nếu Việt Nam Cộng Hòa sợ oai hùm của anh khổng lồ mà tháo lui thì họ không còn gì mong đợi hơn nữa. Còn nếu Việt Nam Cộng Hòa tận lực bảo vệ về đánh thắng họ thì họ sẽ chờ lúc khác, chắc cũng không lâu, nếu Hoa Kỳ không tỏ thái độ trong lần này. Còn giả sử nếu có sự thỏa thuận của Hoa Kỳ để Trung Cộng chiếm Hoàng Sa đi nữa thì dân nước Việt chúng ta có đánh hay không?

Nếu có ai hỏi Đại tá Ngạc hay ông Trần Bình Nam là những người thức thời, nhìn xa hiểu rộng, thì tôi chắc hai người này sẽ dõng dạc công khai tuyên bố: “phải đánh”. Còn đánh như thế nào, đồng tâm hiệp lực mà đánh hay đánh chiếu lệ, nửa nạc nửa mỡ, xem đồng đội như vật hy sinh, thì cái đó không phải là chuyện công khai …

Lê Văn Thự

March 2004

Bài viết được đăng lại từ website chinhnghia.com

Có phải Việt Nam đã ‘ngoại tình trên lưng Trung Quốc’?

Hầu hết những người quan tâm đến cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam năm 1979 đều biết rằng Đặng Tiểu Bình tuyên bố lí do cho cuộc chiến là ‘dạy cho Việt Nam một bài học’. Một cuộc chiến được giới quan sát đánh giá là nhanh và đẫm máu. Cả hai bên đều tuyên bố thắng cuộc nhưng không bên nào chính thức tuyên bố thiệt hại. Các nguồn quốc tế cho rằng Trung Quốc có khoảng 28.000 người chết, và khoảng hơn 43.000 người bị thương. Trong đó Việt Nam ước tính có khoảng 20.000 đến 35.000 người chết và bị thương, trong đó có số lượng lớn là dân thường do chiến địa nằm bên trong lãnh thổ Việt Nam. Lí Hiểu Bình trong cuốn A History of the Modern Chinese Army (Một trang sử của sự hiện đại hoá quân đội Trung Quốc) do Đại học Kentucky xuất bản năm 2007 đưa ra số liệu gần tương tự. Trong đó Trung Quốc có 23.000 lính bị giết, 61.000 bị thương; và Việt Nam có 37.300 lính bị giết, 2.300 bị bắt.

Không phải tự nhiên mà Đặng Tiểu Bình nổi giận muốn dạy cho Việt Nam một bài học, cho dù dưới thời của ông Lê Duẩn căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được đẩy lên cao trào khi Việt Nam phô diễn sự thân mật mặn nồng với Liên Xô, trong khi đàn áp người Việt gốc hoa, buộc phần lớn trong số người Việt gốc Hoa, và người Hoa phải rời khỏi Việt Nam. Tất cả những điều này dù có thể được hiểu là chống lại Trung Quốc, nhưng vẫn là chính sách và công việc đối nội của Việt Nam. Trung Quốc dù không thích điều này cũng không có cách nào khác ngoài ‘cắn răng chịu đựng’. Nhưng đó là trong trường hợp quan hệ ngoại giao bình thường. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc kể từ khi Đảng cộng sản hai nước thành lập, và đặc biệt là khi hai nhà nước của hai chế độ cộng sản được thành lập (Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1945, và Cộng hoà Nhân Dân Trung Hoa năm 1949) đã không là bình thường nữa, nó là quan hệ ‘anh em’, gắn chặt như ‘răng với môi’ (lời của Mao Trạch Đông).

Để hình thành được mối quan hệ đó, có một sự thật không thể phủ nhận là Trung Quốc là giúp đỡ và đóng một vai trò không hề nhỏ trong việc xây dựng, đào tạo, tài trợ và trang bị cho việc phát triển quân đội của Việt Nam, từ một đội quân nhỏ lẻ đến một lực lượng quân sự hùng mạnh, thiện chiến, đánh thắng Pháp, Mĩ và Việt Nam Cộng Hoà trong gần 30 năm. Mặc dù, cả hai bên đều công nhận một vai trò quan trọng của Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến của Việt Nam, cả chống Pháp và đánh Mĩ, nhưng không bên nào công bố một cách đầy đủ sự đóng góp của Trung Quốc trong khoảng thời gian đó. Chỉ biết rằng, giới quan sát và nghiên cứu đã nhận định rằng sự đóng góp của cộng sản quốc tế, đặc biệt là của Trung Quốc là mang tính quyết định, giúp cho quân đội Bắc Việt có thể tồn tại dưới mưa bom bão đạn của Mĩ, và sau đó đánh bại miền Nam Việt Nam. Dù trong và sau khi cuộc chiến biên giới 1979 xảy ra, Trung Quốc đã lặng lẽ chứng minh vai trò của mình trong cuộc chiến của Việt Nam với Pháp và Mĩ như để hợp lí hoá lý do gây chiến, nhưng phía Việt Nam chưa có một công bố chính thức nào. Dù hai bên không công bố chính thức về vai trò và sự trợ giúp của Trung Quốc, nhưng giới nghiên cứu đã dự đoán đó là một sự trợ giúp vô cùng lớn. Lớn đủ để giới lãnh đạo Trung Quốc tin rằng đã nắm được ‘thóp’ của Việt Nam, và do đó đủ để làm giới lãnh đaọ chóp bu Trung Quốc sốc khi chứng kiến sự ‘phản bội’ và ‘vong ơn’ của Việt Nam sau năm 1975, đến nỗi Trung Quốc phải cho Việt Nam ‘một bài học’.

Vậy nền tảng để đưa ra bài học đó là gì?

 Cuốn sách ‘Building Ho’s Army – Chinese Military Assistance to North Vietnam’ (Xây dựng bộ đội ông Hồ – Sự trợ giúp của quân đội Trung Quốc đối với Bắc Việt Nam) của Lí Hiểu Bình nhằm phác hoạ cơ bản vai trò của Trung Quốc trong việc xây dựng ‘bộ đội cụ Hồ’ trong suốt thời kì chiến tranh Việt Nam. Đồng thời cung cấp các tài liệu và phân tích sự mâu thuẫn, và bất mãn giữa nhiều lãnh đạo Việt Nam khi Trung Quốc đóng vai trò anh cả (big brother) trong suốt quá trình này. Tác giả cũng cho rằng sự viện trợ của Trung Quốc dù lớn, cũng không làm giảm đi các căng thẳng giữa hai bên, và không cải thiện được mối quan hệ Việt – Trung dẫn đến sự gia tăng mất niềm tin, và chiến tranh ở cuối thập niên 70. Về cơ bản, cuốn sách đi vào tìm câu trả lời cho câu hỏi tại sao Mao chủ tịch lại đồng ý, và ngay lập tức trợ cấp, giúp đỡ Hồ chủ tịch xây dựng quân đội, từ một nhóm lính cần nông đến một đội quân máu chiến; các sự trợ giúp được diễn ra như thế nào với phạm vi, quy mô ra sao; và căng thẳng, xung đột đã sinh sôi nảy nở như thế nào dưới một mối quan hệ được cho là thắm thiết, để dẫn đến cuộc chiến đẫm máu năm 1979.

Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam 1950 – 1960

Theo các tài liệu mà Lí Hiểu Bình nêu ra trong cuốn sách (hầu hết các tài liệu được sử dụng trong cuốn sách này là nguồn của các cơ quan Đảng, quân đội và nhà nước Trung Quốc, cũng như các cuộc phỏng vấn và hồi ký của những người lính Trung Quốc tham chiến). Trong vòng 6 năm từ 1950 đến 1956, Trung Quốc đã cung cấp cho Bắc Việt Nam gần như toàn bộ những gì mà ông Hồ Chí Minh yêu cầu, bao gồm: 115.000 súng hạng nhẹ, 58 triệu băng đạn, 4.630 khẩu pháo, hơn một triệu đầu pháo, 840.000 lựu đạn, 1200 phương tiện vận tải các loại, 1,4 triệu quân phục, 14.000 tấn lương thực, 26.000 tấn nhiên liệu. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng cung cấp cho Bắc Việt Nam các loại hàng hoá, nhiên vật liệu khác trị giá ước tính khoảng 43,2 triệu đô la. Tiếp nhận và điều trị cho 1.143 lính Bắc Việt bị thương tại căn cứ quân đội Trung quốc gần biên giới Việt Nam. Đào tạo về quân sự, công nghệ, chuyên môn, y tế cho hơn 25.000 nhân viên tại Trung Quốc. Tính đến cuối năm 1954, Trung Quốc đã giúp Bắc Việt thành lập năm sư đoàn bộ binh, trong đó có một sư đoàn pháo binh, một sư đoàn pháo phòng không, và một trung đoàn cảnh vệ. Một số trung đoàn được đào tạo hoàn toàn tại Trung Quốc, như Trung đoàn 88, Trung đoàn 102 thuộc Sư đoàn 308 với khoảng 12.000 lính; Trung đoàn 165, Trung đoàn 174, và Trung đoàn 209 thuộc Sư đoàn 312. Tại thời điểm đầu tiên của sự trợ giúp, có khoảng 570 cố vấn quân sự làm việc tại các đơn vị quân đội của Bắc Việt, trong đó có 10 thiếu tướng, 3 trung tướng, một thượng tướng, và một đại tướng thuộc PLA. Kể từ khi thành lập quân đội năm 1944 với 34 lính nông dân đến khi kết thúc kháng chiến chống Pháp, Bắc Việt Nam đã thiết lập đội quân hùng mạnh với 230.000 quân thường trực, và khoảng hơn 120.000 dân quân địa phương. Đến tháng 4 năm 1956, số quân thường trực của Bắc Việt đã lên đến 320.000 quân, bao gồm cả bộ binh, không quân và hải quân. Tính đến cuối năm 1960, tổng số viện trợ của Trung Quốc cho Bắc Việt Nam lên đến 1.9 tỉ đô la, chiếm 1/3 tổng số viện trợ nước ngoài của Trung Quốc.

Trung Quốc trong chiến tranh Việt Nam 1965 – 1974

 Giai đoạn từ năm 1954, khi Bắc Kinh mở đại sứ quán tại Hà Nội, Mao bắt đầu cân nhắc can thiệp sâu hơn vào chiến tranh Việt Nam khi cảm nhận được mối đe doạ của phương tây. Nhất là trong bối cảnh Hoa Kì bắt đầu xây dựng các căn cứ quân sự xung quanh Trung Quốc ở Nhật, Nam Hàn, Philipines, và cuối cũng sẽ là Nam Việt Nam. Từ năm 1965 đến 1968, Trung Quốc gửi 23 sư đoàn bộ binh tham chiến với khoảng 320.000 quân, nhưng chủ yếu làm các công tác hậu cần phía Lào, dọc theo đường mòn HCM. Đỉnh điểm vào năm 1967 có khoảng 170.000 lính Trung Quốc trực tiếp tham chiến, trong đó có 44.000 lính tham gia các trận đánh và phòng thủ khi Mĩ dải bom miền Bắc. Tính đến năm 1973, tại chiến trường Lào – Việt Nam có 1.984 lính Trung Quốc bị giết, và 7.600 bị thương.

Tính đến năm 1974, Trung Quốc đã cung cấp cho Bắc Việt 2.14 triệu súng trường và súng tự động các loại, 1.2 tỉ băng đạn, 70.000 khẩu pháo, 18.1 triệu đầu pháo, 170 máy bay chiến đấu, 176 pháo hạm, 552 xe tăng, 320 phương tiện quân sự, 16.000 xe tải, 18.240 tấn thuốc nổ, 11.2 tỉ bộ quân phục. Trong những năm 1971-1972 Trung Quốc cũng bắt đầu cung cấp cho Bắc Việt 180 tên lửa phòng không cho chính Trung Quốc sản xuất, cùng với các loại thiết bị khác. Như vậy, trong tổng thời gian  chiến tranh Việt Nam, tổng các khoảng viện trợ của Trung Quốc cho Bắc Việt trị giá 20 tỉ đô la.

Cùng với rất nhiều căng thẳng, bất đồng, mâu thuẫn trong quá trình hợp tác, trợ giúp giữa Trung Quốc với Việt Nam trong khuôn khổ tình đồng chí cộng sản; và “sự nồng thắm đột ngột giữa Việt Nam với Liên Xô đầu những năm 70 trên lưng Trung Quốc’ (ít nhất là trong suy nghĩ của Đặng Tiểu Bình) chính là nền tảng mà Đặng Tiểu Bình muốn ‘dạy cho Việt Nam một bài học’.

Nhưng liệu có phải như vậy? Có phải Đặng Tiểu Bình chỉ đơn giản muốn ‘dạy Việt Nam một bài học’?

Việt Nam kẻ lằn ranh cho chính sách trên biển

Việt Nam là quốc gia có lịch sử gắn liền với những cuộc đấu tranh chống xâm lược, do đó, phòng thủ luôn là mối quan tâm hàng đầu. Hiện nay, trong bối cảnh xuất hiện ngày càng nhiều các chiến lược cạnh tranh, cũng như sự trỗi dậy của một Trung Quốc ngang ngược, Việt Nam cần phải thay đổi chính sách quốc phòng của mình.

Sách Trắng Quốc Phòng được công bố mới đây – tháng 11 năm 2019, không cung cấp chi tiết về những sự thay đổi đối với cơ cấu, tổ chức của lực lượng quân đội, mà chỉ đề cập đến sự điều chỉnh đối với ngân sách quốc phòng tính theo phần trăm GDP. Tuy nhiên, Sách Trắng đề cập chi tiết về nội dung chiến lược, và tán thành các đối sách quốc gia đối với việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Bao gồm, các yếu tố của nguyên tắc chiến lược dựa trên các trụ cột là tự lực, tự cường, và giải quyết mọi tranh chấp một cách hoà bình.

Nhiều nguyên tắc được tái khẳng định trong Sách Trắng, bao gồm cụm từ ‘ba không’. Đó là không có đồng minh quân sự; không cho phép đặt căn cứ quân sự nước ngoài tại Việt nam, không cho phép sử dụng lãnh thổ Việt Nam cho các hoạt động quân sự nước ngoài; và không đứng về một bên để chống lại bên kia. Mặc dù gắn chặt với chính sách không lệ thuộc vào nước ngoài, tuy nhiên Sách Trắng nhấn mạnh một tuyên bố quan trọng rằng: tất cả mọi hình thức phòng thủ đều có thể được cân nhắc khi chủ quyền quốc gia bị xâm phạm. Bên cạnh đó, thông qua Sách Trắng, Việt Nam cũng thể hiện rõ ràng hơn sự chân thành của mình đối với tiến trình hội nhập quốc tế. Nhấn mạnh rằng, Việt Nam tôn trọng và luôn mong muốn áp dụng các nguyên tắc pháp lý quốc tế về hàng hải để giải quyết tranh chấp, như là một biện pháp quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích của Việt nam, cũng như vai trò quốc tế của Việt Nam trong ba thế kỉ vừa qua, kể từ khi Việt Nam tiến hành cải cách và thúc đẩy nền kinh tế phát triển từ năm 1986.

Sách Trắng Quốc phòng của Việt Nam tiếp cận tình hình thế giới, đó là sự phát triển nhanh chóng đến trật tự đa cực, nơi mà mọi quốc gia đều phải ‘điều chỉnh chiến lược nhằm đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu’. Đối với khu vực Thái Bình Dương, bao gồm khu vực Đông Nam Á sẽ ‘tiếp tục là trung tâm cho sự phát triển năng động và chiếm một vị trí địa kinh tế, địa chính trị và địa chiến lược ngày càng quan trọng’.

Tuy nhiên, đây cũng là khu vực đấu trường cho các quốc gia lớn. Sách Trắng đặc biệt nêu tên một số sáng kiến, bao gồm: Sáng kiến Một Vành Đai, Một Con Đường của Trung Quốc; Sáng kiến Ấn Độ – Thái Bình Dương Tự do và Mở của Hoa Kỳ; và Chính sách Ấn độ hướng đông. Trong số các yếu tố gây bất ổn, đe doạ sự ổn định, hoà bình và thịnh vượng của khu vực chính là các tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa – được Việt Nam gọi là Biển Đông. Sách Trắng năm 2019, hay cũng như trong các thông cáo khác của Việt Nam, luôn luôn tránh gọi tên quốc gia gây căng thẳng. Tuy vậy, so với bản năm 2009 thì sự thể hiện đã rõ ràng hơn khi tuyên bố rằng các thách thức ngày càng tệ hơn trong vòng hơn một thập kỉ qua:

‘Những sự phát triển mới ở Biển Đông, bao gồm các hành động đơn phương, sử dụng sức mạnh cưỡng chế, vi phạm pháp luật quốc tế, quân sự hoá, thay đổi hiện trạng ổn định, và xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam được quy định theo luật pháp quốc tế đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của các quốc gia. Tạo nên sự lo lắng và đe doạ đến nền hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không của khu vực’.

Việt Nam luôn đứng đầu trước những thách thức từ Trung Quốc ở Biển Đông, từ đe doạ của việc quân sự hoá các đảo nhân tạo, cho đến việc thử nghiệm khả năng của các cơ sở hạ tầng ngày càng nhằm vào mục tiêu gây căng thẳng. Trong vài năm qua, các hoạt động kinh tế của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đã là đối tượng cho những thách thức dài hạn của Bắc Kinh, dẫn đến việc rút lui của một số dự án khai thác dầu khí, bao gồm cả yêu cầu rút lui đối với Repsol năm 2017, và cả những cuộc đối đầu gần đây tại Bãi Tư Chính.

Sách Trắng nhấn mạnh rằng, Việt Nam là một quốc gia ven biển. Do đó, Việt Nam luôn đề cao cảnh giác để bảo vệ sự an toàn trên biển, và nhấn mạnh rằng Việt Nam tôn trọng tự do hàng hải và hàng không, tự do thương mại và các hoạt động khai thác kinh tế một các hoà bình dựa trên quy định của luật pháp quốc tế.

Một phần quan trọng khác của Sách Trắng tuyên bố rằng: ‘Việt Nam không chấp nhận sự kết hợp phòng thủ dựa trên áp lực hay bất cứ điều kiện cưỡng chế nào’. Điều này thể hiện sự từ chối rõ ràng đối với bất cứ mối quan hệ bất bình đẳng nào, và khẳng định quyền tự chủ trong các quyết định liên quan đến mối quan hệ quốc phòng và lợi ích an ninh. Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn luôn chào đón các mối quan hệ hợp tác thân thiện. Sách Trắng cũng khẳng định thiện chí của Việt Nam trong việc phối hợp bảo vệ biên giới, cả trên biển và trên đất liền. Các hoạt động có thể bao gồm kết hợp tuần tra, trao đổi – một vấn đề đặc biệt quan trọng do các căng thẳng tranh chấp trên biển, và những đe doạ đối với chủ quyền của Việt nam thông qua việc Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hồi tháng 7. Đây cũng chính là sự ngầm ám chỉ rằng, Việt Nam phản đối các tuyên bố yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông, khi mà họ cố gắng định hình khung giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp song phương, và từ chối các dàn xếp đa phương với sự tham gia của bên thứ ba, như Hoa Kỳ.

Sách Trắng phiên bản năm 2019 đề cập chi tiết hơn tính chất leo thang của các mối đe doạ ở Biển Đông so với các phiên bản khác trong quá khứ, đồng thời thể hiển quan điểm của Hà Nội đối với tình hình hiện tại. Hà Nội ủng hộ việc đi qua vô hại trên biển, phù hợp với nguyên tắc được áp dụng thường xuyên bởi Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh nhằm đảm bảo quyền tự do hàng hải, cũng như đảm bảo an toàn, an ninh hàng hải và hàng không trên Biển Đông.

Đây là một trong những hình thức ủng hộ mạnh mẽ nhất mà Việt Nam thể hiện, đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các bên tranh chấp khác ở khu vực Đông Nam Á đang có xu hướng xem nhẹ hình thức này như là biện pháp bảo đảm tự do hàng hải. Sách Trắng của Việt Nam cũng kêu gọi các bên không có thêm những hành động nhằm làm phức tạp thêm tình hình, hoặc mở rộng tranh chấp. Đồng thời tránh quân sự hoá, đe doạ hoặc sử dụng vũ lực. Việt Nam rõ ràng có lí do để lo lắng đối với các vùng biển tranh chấp, khi mà năng lực quân sự của Trung Quốc là rất hữu hình.

Một đoạn quan trọng của Sách Trắng nói rằng: ‘Việt Nam chào đón các tàu hải quân, tàu tuần tra, bảo vệ bờ biển, và các tổ chức quốc tế thực hiện các chuyến thăm viếng bình thường, hoặc dừng lại tại cảng của Việt Nam để sửa chữa, bổ sung hậu cần, hoặc tiếp nhiên liệu kĩ thuật’. Điều này có vẻ như Việt Nam đã thẳng thắn từ chối một vài đề nghị của Trung Quốc nhằm hạn chế sự tham gia của các yếu tố bên ngoài vào những dự án chung của các quốc gia trong khu vực. Đó cũng là điều mà Trung Quốc mong muốn được quy định trong bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (CoC) giữa Trung Quốc với ASEAN đang trong quá trình đàm phán, thoả thuận. Sách Trắng 2019 thể hiện một sự tách dời ngày càng gia tăng của Hà Nội đối với Bắc Kinh do các tranh chấp trên Biển Đông. Không những vậy, Sách Trắng 2019 còn truyền tải nhận thức của Hà Nội đối với những đe doạ hiển hình, và tuyên bố về thiện chí hợp tác của Việt Nam với tất cả các quốc gia, cũng như sự sẵn sàng để mở rộng các mối quan hệ quốc phòng, bất kể còn tồn tại những sự khác biệt về chính trị hay chênh lệch về kinh tế. Sách Trắng cũng đồng thời kẻ rõ lằn ranh đỏ – đó là chủ quyền quốc gia – và tái khẳng định lịch sử hào hùng đánh đuổi ngoại xâm – một thông điệp rất rõ ràng đến những quốc gia có ý định xâm lăng, và tái khẳng định mạnh mẽ sự xác quyết của Việt Nam nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và các quyền kinh tế ven biển.

Nguồn: ‘Vietnam Draws Lines in the Sea‘ by Huong Thu Le

Trung Quốc và Biển Đông: ‘Ngón đòn’ với Phillipines không nên áp dụng với Việt Nam

Bắc Kinh không nên đối xử với Việt nam như cách họ đối xử với Phillipines liên quan đến những tranh chấp ở Biển Đông. Đó không phải là cách hiệu quả và nó cũng không giúp cho tình hình hội nhập kinh tế khu vực nói chung.

Thật ra Việt Nam không hề xem Trung Quốc là bạn giống như cách mà Tổng thống Duterte của Phillipines thể hiện. Thông điệp được Hà Nội phát đi tuần này qua sự triển khai lực lượng nhằm chống lại các tàu của Trung quốc đi vào hoạt động ở những vùng lãnh thổ có tranh chấp.

Trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã có những chiến thắng ngoại giao ấn tượng thông qua việc đưa Phillipines từ kẻ đối đầu thành người bạn bình thường, cũng như sự tăng cường các kế hoạch để biến Biển Đông thành biển nhà của mình.

Quay trở lại thời điểm tháng tư năm 2018, sau những lời đường mật của Trung Quốc về tình bạn thân thiết, tổng thống Duterte đã thay đổi 180 độ thái độ của mình về việc khẳng định chủ quyền của Phillipines tại các vùng đảo tranh chấp. Một năm trước đó Phillipines cùng những đồng minh thân cận, bao gồm U.S đã giành được phán quyết có lợi từ Toà Trọng tài Quốc tế, tuyên bố rằng Trung Quốc không có thẩm quyền lịch sử trên các vùng biển của Biển Đông. Tuy vậy, tổng thống Duterte đã không mạnh mẽ yêu cầu phán quyết được thực thi. Thay vào đó, ông ta đường như đã phe cùng Bắc Kinh trong các tranh chấp và tìm kiếm sự thoái lui trong mối quan hệ đồng minh với Hoa Kì.

Mặc dù phải đối đầu với nhiều sự khiêu khích ngay trong lãnh thổ của mình, nhưng Phillipines đã thể hiện sự lưỡng lự trong việc đối đầu với Trung Quốc. Điều này có lẽ do tổng thống Duterte nuôi niềm hi vọng rằng trở nên thân thiện với Trung Quốc  sẽ mang lại hoà bình ở khu vực, và nguồn đầu tư từ Trung Quốc sẽ đổ vào thị trường Phillipines. Tuy nhiên Phillipines đang phải trả giá cho những quyết định này.

Gần đây Bắc Kinh đang nỗ lực xử lý mối quan hệ căng thẳng với Việt Nam bằng ngón đòn đã dành cho Phillipines. Tuần này Chủ tich nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã tiếp Chủ tich Quốc Hội Việt Nam, bà Nguyễn Thị Kim Ngân và ‘kêu gọi hai nước cần tiếp tục thúc đẩy tình bạn hữu nghị, cũng như mở rộng sự hợp tác nhằm đưa mối quan hệ song phương lên một tầm cao mới’, theo thông tin từ tờ Global Times.

Tờ báo này cũng thông tin thêm rằng, đối với các tranh chấp trên Biển Đông, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh quan điểm rằng ‘cả hai bên nên cư xử đúng mực trên cơ sở tôn trọng lợi ích của hai quốc gia cũng như đối với người dân của hai nước’, ‘thật tâm thực thi các đồng thuận đã đạt được từ hai đảng, hai nhà nước, nhằm đảm bảo hoà bình và ổn định trên biển’.

Cụm từ ‘người hàng xóm thân thiện’ đã không được dùng cho Việt Nam, trong khi đó là cụm từ thân quen được Tập Cận Bình sử dụng đối với Phillipines trong suốt chuyến thăm Manila năm 2018, ông nói trong một bài xã luận đăng trên tờ Global Times ‘là những người hàng xóm thân thiện trong vùng biển, Trung Quốc và Phillipines chia sẻ sự gần gũi về địa lý cũng như một mối quan hệ bền chặt giữa hai dân tộc, hai nền văn hoá’.

Ngược lại với Phillipines, Việt Nam phản đối kế sách biến Biển Đông thành biển nhà của Trung Quốc, đồng thời tuyên bố chủ quyền với những phần biển cụ thể và kiên quyết triển khai lực lượng bảo vệ đến từng centimet mặt nước. Điều này đã được thể hiện cụ thể trong cuộc đối đầu trên biển những ngày vừa qua.

Cùng với đó, Việt Nam đang mạnh mẽ thúc đẩy việc thông qua bộ quy tắc ứng xử CoC nhằm chống lại những hoạt động phi pháp của Trung Quốc đang diễn ra trên Biển Đông. Ví dụ như việc xây dựng các đảo nhân tạo, phong toả và lắp đặt các vũ khí tấn công cũng như các vùng nhận diện phòng không.

Thật khó để nhận định về lập trường cứng rắn của Việt Nam liệu có mang đến một hồi kết trong hoà bình. Tuy nhiên, có một điều rõ ràng là tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ làm yếu đi quá trình hội nhập kinh tế trong khu vực, cũng như làm tăng thêm nỗi lo sợ đối với những nhà đầu tư.

Nguồn: ‘South China Sea: Bejing Shouldn’t Treat Vietnam Like Philippines