Bốn Lý Do Nên Học Luật

Giả sử rất nhiều trong số các bạn tân sinh viên Luật, vừa đang rất hào hứng nhưng lại cũng đang khá hoang mang sau những bài học về Pháp Luật đầu tiên, nên lên facebook rủ nhau gửi thư cho một giáo sư Luật hàng đầu Vương Quốc Anh, hỏi rằng “Học luật ích lợi gì”? Sau đây là 04 lý do mà vị giáo sư này cho rằng các bạn nên học Luật:

Lý do thứ 01 (Brain training): Học luật làm não bạn “nhăn” nếu đang “phẳng”, và “nhăn nhúm” nếu đang “nhăn” sẵn. Nếu có đứa nào tự nhiên đến khoác vai hỏi “ê, mày học gì”, xong bạn cười nhẹ một cái nói “Tao học Luật”, khả năng rất thấp đứa đó sẽ nghĩ bạn sở hữu “não cá vàng”.

Học Luật giúp định hình một lối suy nghĩ cẩn trọng, sáng tạo và hợp lý (carefully, imaginatively, and sensibly).

Có rất nhiều học sinh khi đối mặt với một số tình huống chứa đựng một vài yếu tố pháp lý cần được xác định thì đều trả lời theo bản năng và cảm xúc, chứ không thể hiện một khả năng suy nghĩ thông não và thấu đáo. Vậy nên, nếu bạn chưa định hình cho bản thân một lối suy nghĩ như vậy, thì trường Luật là cái lò đúng nghĩa để đốt lên những ngọn lửa đó.

Thử xem xét ví dụ này:

  • Giả định: Pháp Luật Việt Nam quy định rằng “Một người sẽ được xác định là phạm tội Giết Người, nếu hành động của người đó gây ra sự chết cho người khác, và hành động đó biểu hiện rõ sự cố ý gây ra cái chết mà không có bất cứ ngoại lệ hợp pháp (no lawful justification) hoặc biện minh hợp lý nào (excuse) cho hành động” (Đây chỉ là giả định trong sách mà người dịch đưa vào bối cảnh Pháp Luật Việt Nam cho gần gũi – Điều 123 BLHS Việt Nam 2015 không quy định khái niệm Tội Giết Người).
  • Sự việc: T là một tên khủng bố có tiếng đẹp trai, đã bắt cóc vợ và hai con của D và đe dọa sẽ giết cả 3 nếu D không giúp T chuyển một gói hàng chứa bom đến cho V – Đại sứ ở Đại sứ quán. D đã chuyển gói hàng. V nhận và mở gói hàng… Bùm…(một cây nấm màu đỏ hiện lên) V chết trong tình trạng thi thể tan nát.

Các bạn tân sinh viên Luật nghĩ thế nào?

Nếu bạn đã thông não một cách cẩn trọng và thấu đáo, bạn đã nhận ra ngay trong khái niệm về Tội Giết Người 03 yếu tố cần phải được thỏa mãn thì tội phạm mới hình thành:

  1. Hành động (chuyển gói hàng) của D gây ra cái chết cho V;
  2. D đã hành động với sự cố ý muốn làm V chết;
  3. D không có bất cứ ngoại lệ hợp pháp, hay biện minh hợp lý nào.

Xem xét lần lượt các yếu tố này thấy rằng:

(1) Rõ ràng hành động của D đã gây ra cái chết của V (nếu D không chuyển gói hàng V đã vẫn chả sống nhe răng); 

(2) Nhưng có phải D đã cố ý giết V khi D vận chuyển gói hàng? Điểm này hơi khó thông não nên có thể nhiều tân sinh viên Luật sẽ mắc sai lầm. Một số bạn sinh viên sẽ nói rằng “Nếu D đã biết gói hàng là bom thì D cố ý giết V, vì một đứa não không quá phẳng cũng tưởng tượng ra V sẽ bay xác khi mở gói hàng mà D chuyển đến (khả năng nhìn thấy trước việc sẽ xảy ra theo tư duy logic thông thường)”. Chầm chậm một chút. Liệu rằng chúng ta luôn luôn có thể thấy trước điều gì sẽ xảy ra như là kết quả tất yếu của hành động mà chúng ta làm? Tại sao chúng ta  có hai cụm từ khác nhau là “cố ý” và “có thể” (dự đoán không chắc chắn về khả năng xảy ra)?

Để kiểm tra mệnh đề này chúng ta phải động não tưởng tượng một chút. Giả sử tôi đã tưởng tượng trước rằng việc viết ba cái thứ lằng bà nhằng này đến các bạn tân sinh viên Luật sẽ khiến tôi mệt (chém gió đương nhiên mệt – thinking is hard work), nhưng điều đó không có nghĩa là tôi cố ý làm tôi mệt khi viết mấy cái này. Cố ý gây ra điều gì đó hoàn toàn khác với việc nhìn thấy trước điều gì có thể xảy ra. Khi bạn cố ý thì bạn cố hết sức để làm điều bạn muốn xảy ra. Trong trường hợp này D không cố để giết V, D chỉ cố để giao gói hàng 

(Có thể bạn nghĩ rằng D đã biết trước việc chuyển gói hàng có bom cho V là V sẽ chết tan xác, nhưng thực tế là vẫn có những khả năng (dù nhỏ đến 0.01%) khác đi thì kết quả sẽ thay đổi. Giả sử khi D chuyển gói hàng cho V, V nhìn qua nghĩ là của bạn gái cũ nên cho cô quét rác. Kết quả là cô quét rác mang về nhà và nổ banh xác tại nhà. Trong trường hợp này các bạn tân sinh viên Luật không thể gắn cho D Tội Giết người đối với cái chết của cô quét rác – Bình luận thêm của người dịch).

Thử xem một tình huống khá tương tự: Vẫn là T – một anh khủng bố khá đẹp trai cao to, lần này vẫn chọn vợ và hai con của D để bắt cóc (vì lần 1 D hoàn thành nhiệm vụ khá ok và thoát được trách nhiệm hình sự vì không cố ý giết V) và đe dọa sẽ giết cả ba người nếu D không giết bạn thân của mình là V – một nhà chính trị cỡ bự trên trung ương. D giết V.

Trong trường hợp này xác định rằng:

(1) Hành động của D gây ra cái chết cho V;

(2) D hành động cố ý để V chết;

(3) Tội phạm Giết Người đối với D sẽ thành lập nếu D không có bất cứ ngoại lệ hợp pháp, hoặc biện minh hợp lý nào.

Ở đoạn này lại có rất nhiều các bạn sinh viên Luật dễ bị tắc não vì để bản năng và cảm xúc chèn lấn khi lập luận rằng: Well, D có ngoại lệ hợp pháp hoặc sự biện minh hợp lý vì nếu D không giết V thì vợ con D đã đang hành lý lên thiên đàng. Một mạng đổi ba mạng cũng coi như kết thúc có hậu.

Đè cảm xúc xuống một chút thì các bạn sinh viên sẽ thấy rằng khái niệm Tội Giết Người đề cập đến người phạm tội phải không có ngoại lệ hợp pháp, hoặc biện minh hợp lý – hai cụm từ hoàn toàn khác nhau, hiển nhiên ý nghĩa và giá trị định tội cũng khác nhau.

Ngoại trừ hợp pháp, khi bạn lập luận hành động của ai đó là hợp pháp, điều đó khẳng định người đó đã làm đúng trong những trường hợp xác định (thường là các trường hợp bất khả kháng, hoặc phòng vệ chính đáng như trong quy định của pháp luật Việt Nam).

Biện minh hợp lý, tức là bạn làm điều sai trái, nhưng dựa trên sự hợp lý mà phần đông có thể thông cảm được, hoặc dựa trên niềm tin của bạn trong hoàn cảnh đó, hoàn cảnh mà rất khó xác định rõ ràng các yếu tố hành động (Đây là khái niệm pháp lý không được quy định rõ ràng trong pháp luật Việt Nam hiện nay. Những hành động rơi vào vùng khái niệm này có lẽ được xem xét ở các quy định về “Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự” khi định khung hình phạt, chứ không được sử dụng để xác định có hay không việc phạm tội – chú thích thêm của người dịch).

Ở yếu tố thứ ba này (1) D có thể lập luận rằng D không phạm tội vì hành động của D là đúng vì là ngoại trừ hợp pháp, or (2) D sẽ lập luận là D đã sai khi giết V, nhưng đó là vì trong trường hợp bị đe dọa của D thì có thể thông cảm được.

Về lập luận (1): Giết 1 cứu 3, liệu rằng bạn sẽ chấp nhận lập luận này? 

Tưởng tượng rằng bạn đang bạn đang bị một căn bệnh “rất là bệnh” hành hạ, đòi hỏi cơ thể bạn phải được thay toàn bộ máu, tay bác sĩ lại gợi ý là máu của ông X phòng bên hoàn toàn phù hợp, nhưng việc thay máu sẽ lấy hết toàn bộ máu của X, và kết quả là X sẽ chết. Giả sử X bị ép (bằng lý do nào đó) để hiến máu. Liệu rằng bạn có đồng ý được hiến máu trên mạng sống của người khác? Tôi nghĩ hầu hết mọi người đều nói “không”. Họ sẽ không muốn tồn tại trên cái chết của một người vô tội. Nếu điều này là đúng, (hay bạn thấy là đúng) thì khả năng cao là vợ và hai con của D cũng không muốn D bảo toàn mạng sống cho họ bằng việc giết V – dù V có là bạn thân hay không. Và nếu điều này lại đúng, thì khó để lập luận rằng D đã làm điều đúng khi giết V.

Về lập luận (2): Hành động của D là có thể tha thứ được? D có thể sẽ thấy dễ dàng hơn đối với lập luận này, khi khẳng định rằng trong trường hợp của anh ta, hành động như vậy là có thể hiểu được. Sẽ rất khó cho D, nếu không nói là hoàn toàn không thể để chống lại sự đe dọa của T và để T giết vợ con mình.

Những người khác nhau có quan điểm khác nhau về lập luận này. Đây cũng là suy nghĩ của Lord Hailsham khi ông phủ nhận ý nghĩ rằng, có thể mong đợi một người bình thường để đứng lên chống lại sự đe doạ. Để làm được điều đó đòi hỏi ở D một bản lĩnh anh hùng thực sự.

Nên nhớ rằng, ý của Lord Hailsham nêu trên chỉ đề cập đến trường hợp khi ai đó giết một người khác để cứu chính bản thân mình. Liệu rằng sự việc sẽ khác đi khi bạn giết ai đó để cứu những người yêu thương của mình?

Đây chỉ là một ví dụ trả lời câu hỏi “tại sao học Luật lại thúc đẩy khả năng thông não” (studying law encourages you to think straight).

Lý do thứ 02 (Rhetoric): Khả năng ăn nói lưu loát thuyết phục – Nói đến đâu đi sâu vào lòng người đến đó …

…  the first reason for studying law is that it helps sharpen your mind, the second reason is that it helps sharpen your tongue and pen as well..

… if you can not express yourself clearly, there is no room for you in the law… 

Nếu như lý do thứ nhất để học luật là giúp bạn rèn giũa khả năng tư duy, thì lý do thứ hai đó là, học luật sẽ giúp bạn thành thạo trong khả năng “lắt léo” cái lưỡi và ngòi bút của mình (Ý câu “lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”, nhưng nên được hiểu là khả năng nói và trình bày một cách thuyết phục hợp tình hợp lý, chứ không phải ý là “leo lẻo cái mồm đổi trắng thay đen).

Rhetoric là một từ cửa miệng mà các cụ nhà người ta (như các cụ ở Hy Lạp hay Ý) thường dùng ý nghĩa đến một nghệ thuật thuyết phục, lôi kéo người khác phải “gật gù ừ ừ phải phải” với một quan điểm/lập luận mà bạn nêu ra dựa trên sự trình bày (nói/viết) chặt chẽ, logic. Điều đáng tiếc là không phải trường đại học nào cũng dậy thứ nghệ thuật này, nhưng đáng mừng là trường Luật nào cũng (không cách này thì cách khác) truyền dạy các kỹ năng này.

Có một nguyên tắc sắt đá mang tính nền tảng mà giới luật sư hay thì thầm và coi như bài học vỡ lòng đầu tiên để truyền dạy trong nghề, đó là “nói cho dõng dạc rõ ràng không là chết” (Express yourself clearly or die). Vậy nên, nếu bạn không thể thể hiện lời nói, ý tưởng của bạn một cách rõ ràng, đừng dại dột mà bước chân vào cổng trường Luật, vì nơi đó không dành cho bạn.

Các Luật Sư dù là Luật Sư tư vấn Luật Sư tranh tụng tại tòa, hơn ai hết là những người “gặm nhấm” tính quan trọng của kỹ năng trình bày rõ ràng mạch lạc mỗi ngày. Tự mình nhắc nhở bản thân để mỗi ngày phải trau dồi, rèn luyện ăn nói cho “gãy góc” phải như bài học ngấm vào máu mỗi Luật Sư.

Tất cả những Thẩm Phán, những người mà phán quyết của họ vẫn được các nhà làm luật sử dụng để tham khảo cho các chính sách pháp luật nhằm định hình xã hội của chúng ta ngày nay đều là những bậc thầy trong nghệ thuật trình bày logic ý nghĩ của họ.

Đối với các điều luật cũng vậy. Bất cứ điều luật nào được quy định không rõ ràng sẽ sớm bị huỷ bỏ hoặc sửa đổi. Những điều luật như vậy thường gây nhiều khó khăn trong việc áp dụng luật, mà mỗi vụ việc liên quan đều phải tự lý giải “điều luật đó nói điều gì”. Và do đó, các điều luật này sẽ sớm đi vào quên lãng mà chỉ các bản án đã được thông qua sẽ được viện dẫn lại (Đây là đặc trưng của hệ thống pháp luật Anh – Mỹ  với việc sử dụng án lệ là nguồn luật áp dụng – chú thích người dịch).

Các nhà nghiên cứu luật cũng không có cách nào khác là phải theo đuổi môn nghệ thuật Rhetoric này. Một nhà nghiên cứu luật mà không thể khiến cho các đồng nghiệp của mình hiểu ý mà ông/bà ấy muốn nói gì, thì ông/bà ấy nên chấm dứt sự nghiệp bút nghiên ngay từ khi bắt đầu để đỡ tốn giấy mực.

Khi bắt đầu sự nghiệp học hành tại trường Luật, sinh viên luật sẽ được yêu cầu viết các bài tiểu luận. Trong đó, sinh viên phải trình bày rõ ràng lập luận của mình về một điều luật (ví dụ như tính hợp lý của quy định, hoặc sự bất hợp lý của điều luật đó), hay phải đề nghị điều luật đó nên được quy định, hoặc nên được sửa đổi như thế nào. Đối với các kỳ thi, thường với thời gian khoảng 40 phút, sinh viên Luật cần phải học và trau dồi các kỹ năng để trình bày được nhiều nhất những gì mình muốn nói với sự rõ ràng và mạch lạc nhất. Có một câu nói đùa rằng “Tôi đã viết bài luận này dài hơn bình thường vì tôi không có thời gian để làm nó ngắn hơn”. 

Cái sinh viên Luật cần không phải thời gian, mà là sự vận hành tối đa và logic của não bộ trong khoảng thời gian cho phép để đưa ra những lập luận rõ ràng. Trong tất cả những người lãnh nổi tiếng với tài ăn nói, từ Cicero, Henry Clay, Abraham Lincoln, hay ngày nay là Barack Obama đều là những Luật Sư trước khi trở thành những nhà hùng biện. Chẳng phải ngẫu nhiên mà bài phát biểu nổi tiếng nhất của Abraham Lincoln – “Gettysburg Address” chỉ có 272 từ, trong khi một vị giáo sư phát biểu trước đó chiếm sóng 2 tiếng đồng hồ.

Lý do thứ 03 (Politics): Học Luật là sự chuẩn bị thực tiễn cho hiểu biết chính trị, hay sự nghiệp chính trường

Đi học làm quan là tâm lý khá phổ biến ở Việt Nam, và học Luật có vẻ như được nhiều người nghĩ là con đường ngắn nhất để được ngồi vào ghế quan. Thử xem danh sách 15 tân Bí thư tỉnh/thành uỷ nhiệm kỳ 2020-2025 thì thấy có đến 5 người sở hữu bằng Cử nhân hoặc Thạc sĩ Luật. Điều này cho thấy, để bắt đầu một sự nghiệp chính trị, người ta có thể bắt đầu từ chạy xe ôm hoặc bán chổi đót, hoặc bất cứ ngành nghề nào khác, nhưng để tiến sâu và làm chủ chính trường, các chính khách nên chuẩn bị cho mình một văn bằng chứng nhận sự hiểu biết pháp luật. Tại sao lại như vậy?

McBride cho rằng học Luật giúp bạn hình thành khả năng nhận biết và nhận định về cuộc sống xung quanh, từ đó định hình quan điểm riêng của mình rằng xã hội thì nên được vận hành như thế nào. Từ việc có quan điểm riêng, người học Luật sẽ tham gia vào việc thiết kế xã hội, dù gián tiếp qua việc bỏ phiếu bầu, hay trực tiếp thông qua việc ứng cử vào các vị trí trong cơ quan nhà nước. Ví dụ: Bằng việc học Luật, người học Luật đã biết rằng mọi cá nhân phải được đối xử bình đẳng và được tự do trong hành động, miễn là không làm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khác hoặc của cộng đồng. Từ việc có sự hiểu biết như vậy, người học Luật có thể chọn biểu quyết “không đồng ý” với một đạo luật có nội dung trái với nguyên tắc này, trong trường hợp Quốc hội tổ chức trưng cầu dân ý. Cũng bằng sự hiểu biết đó về quyền bình đẳng, người học Luật – khi đã trở thành nhà làm Luật, sẽ không đề nghị một chính sách pháp luật nào làm hại đến quyền bình đẳng và tự do của mỗi cá nhân. Đó là cách mà xã hội được định hình và vận hành theo ý chí.

Sự khác biệt, hay lợi thế của người học Luật khi đi vào con đường chính trị so với người học chuyên ngành khác, như triết học, đó là người học Luật có cái nhìn thực tiễn. Ý chí của họ là ý chí rút ra từ thực tiễn, do đã được đào tạo để nhận biết điều gì sẽ khiến xã hội vận hành trơn tru, và điều gì thì không. Các nhà triết học nhìn xã hội được vận hành theo cách nó nên là (ước muốn), còn các nhà làm Luật đưa ra những điều luật phải dựa trên thực tại, và do đó, phải phù hợp với quy luật khách quan và thực tiễn. Nếu không, mục đích định hình trật tự xã hội của các quy định đó sẽ phản tác dụng, mọi thứ sẽ trở nên hỗn loạn và mất kiểm soát. Ví dụ: Người làm Luật đã biết rằng đảm bảo sự bình đẳng của mỗi cá nhân là một quyền con người đã được chứng minh trong lịch sử.  Vậy nếu một đạo luật được ban hành lại có quy định hạn chế quyền bình đẳng của một nhóm người nào đó trong xã hội, thì khả năng rất cao là bất mãn sẽ nảy sinh, và theo quy luật tự nhiên, có bất mãn sẽ có đấu tranh, cuối cùng sẽ là một sự bất ổn xã hội.

Lý do thứ 04 (Legal training): Học Luật là sự chuẩn bị tốt nhất để hành nghề Luật sư

McBride khẳng định điều này, và nếu ai phản đối thì họ sẽ lập luận kiểu như “học y không phải là con đường tốt nhất để trở thành bác sĩ”. Nhiều người nghĩ rằng, để hành nghề Luật sư thì phải dành linh hồn “làm quà” cho quỷ dữ (you have to sell your soul to become a lawyer), và người ta cho rằng Luật sư cũng thường bán rẻ lương tâm của mình để bảo vệ cho bất cứ bên nào, chỉ cần bên đó trả công hậu hĩnh nhất (Lawyers – it is suspected that – sell out their consciences and simply seek to represent whichever side in a dispute is willing to pay them the most for their services). Đây là lẽ thường, khi mà những người có khả năng lập luận thuyết phục cho bên yếu thế cũng dễ bị nghi ngờ. Giống như Socrates đã bị tử hình ở Athens năm 399 trước công nguyên, cũng một phần vì ông có sức mạnh để khiến bên yếu thế trở nên mạnh mẽ hơn. 

Thực ra, trở thành một Luật sư, về mặt đạo đức, cũng cao quí như trở thành bác sĩ hay nhà giáo. Bởi lẽ, một hệ thống pháp luật mà thiếu sự tồn tại của Luật sư thì sự hoạt động của nó cũng không khác một người qùe cụt, mà hệ thống pháp luật cũng quan trọng đối với xã hội không khác hệ thống y tế và hệ thống giáo dục để đời sống con người được đảm bảo tự do, ấm no, hạnh phúc và phát triển. 

Con người sẽ chỉ tự do, ấm no, hạnh phúc và phát triển dưới một hệ thống pháp luật được tạo ra dựa trên những giá trị nhân bản của con người và các giá trị tiến bộ của xã hội, cũng như dựa trên giá trị tối cao của pháp luật – Pháp quyền (rule of law). Với sức mạnh cao nhất trong xã hội, pháp luật sẽ phải giới hạn quyền lực nhà nước trong quan hệ với người dân, và giới hạn quyền tự do của mỗi cá nhân, làm sao để mỗi cá nhân đều được tự do mà không làm phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khác. Và tất cả những giới hạn đó, đều phải được quy định để dễ dàng giám sát một cách rộng rãi. Hiển nhiên, là những người đã được đào tạo về Luật pháp, giới Luật sư sẽ là lực lượng quan trọng nhất để đảm bảo pháp luật được giám sát và thực thi đúng như được quy định.

Có người sẽ lập luận rằng, hành nghề Luật sư chẳng có gì là cao quí khi mà Luật sư là những người “bảo kê” cho quỷ dữ. Họ hỏi rằng “làm thế nào mà Luật sư lại có thể bào chữa cho những người mà họ biết chắc là có tội”, hoặc “làm sao Luật sư có thể bảo vệ những công ty làm ô nhiễm môi trường, hoặc những công ty làm đủ mọi cách để trốn thuế …”, và những người đặt câu hỏi như vậy cho rằng công việc của Luật sư là đáng chê trách dựa trên tiêu chuẩn đạo đức. Tuy vậy, đây không phải là một nhận xét xác đáng, và Luật sư không đáng bị chê trách như vậy. Thực ra, hệ thống pháp luật sẽ không được coi là hoạt động chuẩn mực nếu bất cứ ai ở trong/hoặc bị dính vào một quan hệ pháp luật bị cản trở quyền có Luật sư. Bởi lẽ, trong một xã hội pháp quyền (pháp luật có quyền lực tối cao) nơi mọi cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật thì họ có quyền như nhau trong việc tiếp cận sự bảo vệ trước pháp luật. Và để đảm bảo mọi cá nhân, tổ chức đều bình đẳng trước pháp luật, Luật sư sẽ phải sẵn sàng đại diện cho bất cứ khách hàng nào và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ một cách tốt nhất.

Doan Nguyen

Bài viết được dịch từ “Bức thư số 02: Bốn lý do nên học Luật” trong cuốn sách “Những bức thư gửi một sinh viên Luật: Cẩm nang học luật tại trường đại học” của Giáo sư Nicholas L. McBride, tái bản lần thứ tư năm 2018, nhà xuất bản Pearson, Vương Quốc Anh.

Lưu ý: Bài dịch truyền tải hầu hết các ý chính của bức thư số 02. Tuy vậy, cách diễn dịch và một số ví dụ đã được thay đổi nhằm mang đến sự gần gũi và dễ hiểu hơn cho người đọc.

One thought on “Bốn Lý Do Nên Học Luật

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: