Giới thiệu Lý thuyết Trường phái Anh trong Quan hệ Quốc tế

Trường phái Anh (TPA) cung cấp những nền tảng cơ bản về cấu trúc xã hội của trật tự thế giới trong nghiên cứu quốc tế và lịch sử thế giới. Rất nhiều những lý thuyết khác thường khai thác một hoặc một số khía cạnh trọng yếu của quan hệ quốc tế (QHQT), trong khi đó, TPA tiếp cận thế giới và những quan hệ trong đó một cách toàn diện, xem xét trên bình diện của sự đồng nhất (see the world as the whole). Do đó, TPA thành lập ba định danh cho QHQT dựa trên sự phân tích và bóc tách sự đối lập của các lý thuyết dòng chính (chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự do), đó là: hệ-thống-quốc-tế (international system); xã-hội-quốc-tế (international society), và xã-hội-thế-giới (world society).

Những nền tảng cơ bản của Trường phái Anh

TPA được xây dựng dựa trên ba ý tưởng định danh, bao gồm: hệ-thống-quốc-tế, xã-hội-quốc-tế, và xã-hội-thế-giới. Hedley Bull (1977, 9-10) định nghĩa hệ-thống-quốc-tế đã được định hình như nó đang là, đó là “khi hai hoặc nhiều hơn những nhà nước có những mối quan hệ qua lại một cách hữu hiệu, và có những ảnh hưởng hiệu quả đối với quyết định của nhau, sẽ khiến họ hành xử như họ là một phần không tách rời của khối chung”. Hiểu theo định nghĩa này, hệ-thống-quốc-tế chủ yếu là sự xác định của quyền lực chính trị trong mối quan hệ của các nhà nước dưới cấu trúc của một hệ-thống-quốc-tế vô chính phủ. Một xã-hội-quốc-tế tồn tại khi một nhóm những nhà nước có chung chí hướng (like-minded countries) “tự nhận thức được tính ràng buộc của những nguyên tắc nền tảng chung, những định chế chung (institutions) trong hành xử của mình với nhà nước khác” (Bull 1977, 13). Nói cách khác, xã-hội-quốc-tế chính là sự tạo lập, duy trì của những tập quán chung, nguyên tắc chung và định chế chung giữa các quốc gia. Cuối cùng, xã-hội-thế-giới, được nhận định là phức tạp hơn xã-hội-quốc-tế, đó là “những nhân tố cuối cùng của một xã hội hoàn hảo của toàn nhân loại mà không phải những nhà nước…mà chính là những cá thể con người” (Bull 1977, 21). Như vậy, xã-hội-thế-giới vượt lên hệ thống nhà nước, và tập trung vào những cá thể, thực thể phi nhà nước, và cuối cùng là con người toàn cầu (global population) như là trọng yếu của bản sắc và định hình xã hội toàn cầu.

Một điều cần nhấn mạnh ở đây, rằng, các định chế (institutions) trong TPA không đồng nghĩa, và không phải là những tổ chức (organizations). Theo các học giả của TPA, định chế, đề cập đến những thực hành quan-hệ-tương-tác lâu dài giữa các nhà nước dưới các vấn đề như ngoại giao, luật pháp hay chiến tranh (đây là những định chế chính yếu – primary institutions) hơn là liên quan đến những cấu trúc hành chính quốc tế (international bureaucratic structures) – chính là những cơ quan, thủ tục được thành lập nhằm tiện lợi và đơn giản hoá việc thực hành quan hệ giữa các nhà nước. Dưới quan điểm của các học giả TPA, những tổ chức hành chính là thứ yếu (secondary institutions) và hoàn toàn phục thuộc và sự vận hành của những định chế chính yếu trong xã hội quốc tế.

Sự khác biệt giữa một hệ-thống-quốc-tế và một xã-hội-quốc-tế sẽ giúp chúng ta phân biệt những kiểu, tính cách của mối quan hệ giữa các nhà nước hoặc những nhóm nhà nước nhất định. Ví dụ, lịch sử ở châu Âu đã cho thấy có hai loại quan hệ trong khu vực, đó là quan hệ giữa các nhà nước châu Âu với nhau, và loại thứ hai, quan hệ giữa các nhà nước châu Âu với Đế chế Ottoman. Trong khi mối quan hệ giữa các nhà nước châu Âu với nhau thể hiện sự tồn tại của một xã-hội-quốc-tế châu Âu, mối quan hệ giữa những nhà nước này với Đế chế Ottoman lai phản ánh sự tồn tại của một hệ-thống-quốc-tế. Tương tự như vậy, sự tương tác giữa các thành viên của Liên minh châu Âu định dạng một kiểu xã-hội-quốc-tế, trong khi quan hệ giữa Liên minh này với Thổ Nhĩ Kỳ lại miêu tả sự tương tác trong một khuôn khổ rộng hơn của hệ-thống-quốc-tế. Mặc dù có những sự khác nhau để phân tách và nhận định như vậy, nhưng sự phân biệt này không hoàn toàn rõ ràng. Các cuộc tranh luận và phản biện đã chỉ ra rằng, vẫn có thể tìm thấy sự tồn tại của những nguyên tắc và định chế nhất định hoạt động trong một hệ-thống-quốc-tế. Và do đó, dẫn đến sự chấp nhận một tiền đề, rằng, một hệ-thống-quốc-tế là một hình thái yếu hoặc “mỏng” (thiếu vững chắc) của một xã-hội-quốc-tế.

Thưc tế lịch sử đã cho thấy rằng không có bất cứ một hệ-thống-quốc-tế hay xã-hội-quốc-tế nào tồn tại đơn lẻ, nhưng có một vài xã-hội-quốc-tế mang tính khu vực với những nguyên tắc và chế định đặc thù. Tất cả được xây dựng dựa trên những nền văn minh đa dạng, bao gồm những khác biệt về tôn giáo, hệ thống quản trị, hệ thống pháp luật, và cả những khác biệt trong nhận thức về thế giới. Điều này ngầm nhấn mạnh rằng quan hệ giữa các thực thể chính trị trong những xã-hội-quốc-tế  khu vực khác nhau không thể diễn ra trên những nền tảng đạo đức và pháp lý giống nhau như những quan hệ trong các xã hội tương đồng. Bởi lẽ, những nguyên tắc quản trị của mỗi khu vực (hoặc xã-hội-quốc-tế mang tính khu vực) là cá biệt và độc đáo trong những nét văn hoá riêng. Điều này dẫn đến việc không thể có sự đồng thuận cho bất cứ một thực thể nhất định nào được có quyền lực bao trùm hai hoặc nhiều hơn các xã-hội-quốc-tế khu vực, như là cơ quan đại diện cho một xã-hội-quốc-tế duy nhất. Hơn nữa, sự tương tác giữa các xã-hội-quốc-tế khu vực là hạn chế hơn so với sự tương tác nội bộ của các khu vực đó. Do đó, sự xuất hiện của một xã-hội-quốc-tế thật sự sẽ là không thể, trừ trường hợp một xã-hội-quốc-tế khu vực nào đó có thể tự mở rộng ảnh hưởng của nó đến một mức độ có thể hấp dẫn và sáp nhập các xã-hội-quốc-tế khu vực khác nhau thành một xã-hội-quốc-tế duy nhất, được vận hành dưới những giá trị và thực thể quản trị chung.

Trong những thế kỉ 17 và 18, xã-hội-quốc-tế xuất hiện như là một hiệp hội đặc quyền của các nhà nước châu Âu và những quốc gia “văn minh” được thể hiện rõ ràng trong những chế định như luật quốc tế, ngoại giao và sự cân bằng quyền lực. Dường như sức mạnh quyền lực của các nhà nước châu Âu được ràng buộc bởi một bộ quy tắc ứng xử giữa họ, và bộ quy tắc này không ràng buộc họ trong quan hệ với xã hội khác, hay nhà nước thuộc xã hội khác.

Các luật sư quốc tế ở thế kỷ 19 đã thúc đẩy sự phân biệt văn hoá giữa người châu Âu và người không thuộc châu Âu, giữa các dân tộc “văn minh” và “không văn minh”. Sự phân biệt giữa một cộng đồng/dân tộc “văn minh” hoặc “man rợ” có nghĩa rằng, các nhà nước thuộc về phía nào và ở mức độ nào, sẽ phản ánh những giai đoạn khác nhau trong quá trình công nhận pháp lý. Xã-hội-quốc-tế châu Âu với các giá trị văn minh lan toả ra ngoài phạm vi khu vực của nó, dẫn đến nhiều quốc gia bên ngoài mong muốn được gia nhập. Do đó, các nhà nước châu Âu cần phải thiết lập những điều kiện để làm căn cứ chấp thuận cho những thực thể chính trị ngoài khu vực được trở thành thành viên trong xã hội của mình. Kết quả của quá trình đó cho ra đời một tiêu chuẩn của “sự văn minh”, phản ánh những tập tục của một nền văn minh tự do châu Âu.

Tiêu chuẩn của nền văn minh bao gồm những yếu tố như, sự đảm bảo đối với những quyền con người cơ bản, sự duy trì của một hệ thống pháp luật quốc gia đảm bảo công bằng cho tất cả mọi cá nhân. Trên cơ sở đó, nếu quốc gia nào không có thiện chí, hoặc không thể đảm bảo những quyền cơ bản đó sẽ không được xem xét là “văn minh”. Kết quả là, các quốc gia – ứng cử viên gia nhập xã-hội-quốc-tế châu Âu sẽ bị đánh giá không chỉ dựa trên quan hệ đối ngoại, mà còn dựa trên sự quản trị nội bộ trong quốc gia đó. Quá trình này cũng dẫn đến sự ra đời của những mối quan hệ thứ bậc giữa hai loại nhà nước mới: “văn minh”, và “đang văn minh”. Hay nói cách khác, là mối quan hệ giữa “người dạy” và “người học”.

Một xã-hội-quốc-tế mới ra đời ngay sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), được đánh dấu bởi sự thành lập của Liên minh các quốc gia vào năm 1922, và nó được vận hành dựa trên gần như toàn bộ các nguyên tắc và sự thực hành tương tác được phát triển trong xã-hội-quốc-tế châu Âu. Bao gồm, luật quốc tế và ngoại giao, cũng như các tuyên bố cơ bản về chủ quyền quốc gia và sự bình đẳng pháp lý của các nhà nước được công nhận như những thành viên độc lập của xã hội mới này. Một điều đáng chú ý là, thúc đẩy sự ra đời của Liên minh không đến từ châu Âu, mà từ một Tổng thống Mỹ – Woodrow Wilson, một chỉ dấu báo hiệu sự thay đổi về bản chất của trật tự quốc tế.

Sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai năm 1939 đã làm gián đoạn các chức năng của Liên minh, đồng thời dẫn đến sự tan vỡ của cái xã-hội-quốc-tế ẩn sau nó. Sự thành lập của Liên hợp quốc năm 1945 được xem như sự thể hiện khác của một xã-hội-quốc-tế mới. Thực tế là, rất nhiều những nguyên tắc và cấu trúc của Liên minh đã được áp dụng lại ở Liên hợp quốc. Ở khía cạnh khác, tiêu chuẩn về nền văn minh châu Âu lúc này tồn tại như sự xỉ nhục đối với thực thể đại diện của các quốc gia được coi là “không văn minh”. Điều này là bởi vì, trạng thái “văn minh” mà các nhà nước châu Âu tự gắn cho mình được coi là một trạng thái đặc quyền pháp lý đối với họ. Điều này không chỉ phân chia thế giới thành các nhà nước “văn minh” và “không văn minh”, mà còn đồng thời duy trì các mối quan hệ thứ bậc giữa các nhà nước. Hệ quả là, các nhà nước ngoài khu vực châu Âu và những quốc gia thuộc địa đã bắt đầu đấu tranh chống lại tiêu chuẩn văn minh châu Âu, dẫn đến sự xoá bỏ nó cùng với quá trình đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân – báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa đế quốc và thực dân.

Sự hình thành của trật tự thế giới lưỡng cực trong Chiến tranh Lạnh (1947-1991) với hai siêu cường quốc phân chia thế giới theo ý thực hệ riêng của mình đã dẫn đến sự chia rẽ, từ một xã-hội-quốc-tế mang tính toàn cầu, nhưng tương đối lỏng lẻo (relatively “thin”), thành hai tiểu xã-hội-quốc-tế vững chắc hơn (thicker): cái này liên kết và dẫn đầu bởi Hoa Kỳ, cái còn lại là liên kết với Liên Xô làm trung tâm. Sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh năm 1991 có hai ý nghĩa: một là, sự phân chia xã-hội-quốc-tế toàn cầu chấm dứt; và thứ hai, một tập hợp các xã-hội-quốc-tế khu vực với những mức độ vững chắc (thickness) khác nhau dần dần hình thành trong giới hạn của một xã-hội-quốc-tế toàn cầu, nhưng thiếu vững chắc hơn.

Một tranh luận chính trong TPA xoay quanh câu chuyện về chủ nghĩa đa nguyên (pluralism) và chủ nghĩa đại đồng/đoàn kết (solidarism). Chủ nghĩa đa nguyên đề cập đến một xã-hội-quốc-tế với một mức độ chia sẻ các tập tục, nguyên tắc và chế định tương đối thấp. Trong khi đó, chủ nghĩa đại đồng hướng đến một xã-hội-quốc-tế khác, với mức độ chia sẻ tương đối cao. Cuộc tranh luận giữa những người chủ trương đa nguyên với những người đề cao đoàn kết cơ bản để giải quyết vấn đề: làm thế nào để xã-hội-quốc-tế kết nối vào xã-hội-thế-giới, hoặc, nói cách khác là, làm thế nào để xã-hội-quốc-tế kết nối đến con người. Câu hỏi trọng tâm chính là làm thế nào để giảm đi sự căng thẳng giữa những nhu cầu và sự tối quan trọng của các nhà nước, và giữa nhu cầu với sự tối quan trọng của con người. Những điều này thường xuyên xung đột cả trong những tình huống thực tế và lý thuyết. Hầu hết các học giả TPA tham gia cuộc tranh luận này, họ nói về sự căng thẳng giữa sự tối quan trọng của trật tự và công bằng như là vấn đề cốt yếu cần được giải quyết.

Luật quốc tế đóng vai trò quan trọng trong cuộc tranh luận giữa chủ nghĩa đa nguyên và chủ nghĩa đại đồng với câu hỏi, liệu rằng luật quốc tế nên bao gồm chỉ luật tự nhiên (natural law) hay luật thực định (positive law). Luật tự nhiên là một trường phái triết học đề cao chủ thuyết rằng, một số quyền và giá trị nhất định là vốn có bởi đức tính tự nhiên của con người, và có thể được nhận biết một cách phổ quát bởi lý trí con người. Nói cách khác, luật tự nhiên đề cập đến một tập hợp những nguyên tắc đạo đức bất biến được coi là nền tảng cho mọi hành vi con người. Còn về luật thực định, hay luật thực chứng, đề cập đến những luật  được tạo ra bởi con người tồn tại trong những cộng đồng, xã hội và nhà nước nhất định. Cuộc tranh luận này thể hiện rõ nét nhất giữa hai luận điểm: một là, tuyên bố chủ quyền quốc gia của các nhà nước (dựa trên chủ nghĩa đa nguyên); và hai là, khẳng định các quyền phổ quát thuộc về con người (thông qua chủ nghĩa đoàn kết). Một ví dụ rõ ràng phản ánh cuộc tranh luận này có thể sử dụng trường hợp của Syria. Một người thuộc chủ nghĩa đa nguyên có thể sẽ khẳng định rằng, bất chấp những hành động tàn bạo khủng khiếp từ năm 2011 khi nhà nước sụp đổ trong cuộc nội chiến tàn khốc, Syria là một quốc gia có chủ quyền và chịu trách nhiệm về lãnh thổ và người dân của mình. Một người đứng ở vị trí trong chủ nghĩa đại đồng có thể sẽ nhấn mạnh nghĩa vụ tối quan trọng là bảo vệ tính mạng con người và ủng hộ sự can thiệp từ bên ngoài vào nội chiến Syria. Cả hai bên có thể sẽ gợi ý một kiểu xã-hội-quốc-tế rất khác nhau. Mặc dù chủ nghĩa đa nguyên và chủ nghĩa đại đồng dường như đối nghịch nhau, nhưng cả hai đều đang định hình những nguyên tắc cho một cuộc tranh luận về những hạn chế và tính khả thi của xã-hội-quốc-tế. Cuộc tranh luận này chủ yếu nhằm xác định cách tốt nhất để dung hoà mong muốn và nhu cầu của cả người dân và các nhà nước. Theo ý nghĩa này, TPA là một công cụ thiết yếu trong lý thuyết QHQT nhằm cố gắng tìm ra một sự cân bằng hiệu quả trong cách thức vận hành giữa quyền lực, lợi ích, các tiêu chuẩn công bằng, và trách nhiệm trong xã-hội-quốc-tế.

Trường phái Anh và Liên minh châu Âu (lược bỏ)

Kết luận

Hai cuộc tranh luận đã tồn tại trong TPA. Một là, liệu rằng sự phân biệt giữa một hệ-thống-quốc-tế và một xã-hội-quốc-tế là thích đáng hay không, nếu có, vậy thì lằn ranh giữa hai hình thức của trật tự quốc tế nằm ở đâu. Tranh luận thứ hai tập trung vào sự khác nhau giữa chủ nghĩa đa nguyên và chủ nghĩa đại đồng và mối quan hệ giữa xã-hội-quốc-tế và xã-hội-thế-giới. Cuộc tranh luận thứ nhất dẫn đến hệ quả là sự chấp nhận tiền đề rằng, một hệ-thống-quốc-tế là một hình thức “mỏng” của một xã-hội-quốc-tế. Mặc dù cuộc tranh luận về chủ nghĩa đa nguyên và chủ nghĩa đại đồng vẫn đang diễn ra, người ta nên nhận ra một số những thay đổi nhất định trong xã-hội-quốc-tế (ví dụ như sự chuyển dịch từ một thế giới với chiến tranh liên miên trước 1945 đến một thế giới tương đối hoà bình sau đó) được đồng hành bởi một số những thay đổi quan trọng khác trong xã-hội-thế-giới. Ví dụ, có sự lớn mạnh về những đòi hỏi cho các quyền con người cơ bản, bởi con người ngày càng hiểu hơn rằng cuộc sống của họ gắn chặt vào một nền kinh tế và môi trường toàn cầu. Cũng trong khoảng thời gian đó, công nghệ và các mạng xã hội tạo nên những kênh chia sẻ kinh nghiệm một cách rộng rãi. Những sự phát triển như vậy dẫn đến sự gia tăng các tác động qua lại giữa xã-hội-quốc-tế và xã-hội-thế-giới, và điều đó thúc đẩy tiềm năng cho sự ổn định xã-hội-quốc-tế bởi sự gắn kết của những ý tưởng không chỉ trong suy nghĩ của giới tinh hoa kinh tế và chính trị, mà còn trong suy nghĩ của giới bình dân.

Doan Nguyen

Nguồn: Yannis Stivachtis: “Introducing the English School in International Relation Theory“, E-International Relations, 23 Feb 2018.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

<span>%d</span> bloggers like this: