Có phải Việt Nam đã ‘ngoại tình trên lưng Trung Quốc’?

Hầu hết những người quan tâm đến cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam năm 1979 đều biết rằng Đặng Tiểu Bình tuyên bố lí do cho cuộc chiến là ‘dạy cho Việt Nam một bài học’. Một cuộc chiến được giới quan sát đánh giá là nhanh và đẫm máu. Cả hai bên đều tuyên bố thắng cuộc nhưng không bên nào chính thức tuyên bố thiệt hại. Các nguồn quốc tế cho rằng Trung Quốc có khoảng 28.000 người chết, và khoảng hơn 43.000 người bị thương. Trong đó Việt Nam ước tính có khoảng 20.000 đến 35.000 người chết và bị thương, trong đó có số lượng lớn là dân thường do chiến địa nằm bên trong lãnh thổ Việt Nam. Lí Hiểu Bình trong cuốn A History of the Modern Chinese Army (Một trang sử của sự hiện đại hoá quân đội Trung Quốc) do Đại học Kentucky xuất bản năm 2007 đưa ra số liệu gần tương tự. Trong đó Trung Quốc có 23.000 lính bị giết, 61.000 bị thương; và Việt Nam có 37.300 lính bị giết, 2.300 bị bắt.

Không phải tự nhiên mà Đặng Tiểu Bình nổi giận muốn dạy cho Việt Nam một bài học, cho dù dưới thời của ông Lê Duẩn căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được đẩy lên cao trào khi Việt Nam phô diễn sự thân mật mặn nồng với Liên Xô, trong khi đàn áp người Việt gốc hoa, buộc phần lớn trong số người Việt gốc Hoa, và người Hoa phải rời khỏi Việt Nam. Tất cả những điều này dù có thể được hiểu là chống lại Trung Quốc, nhưng vẫn là chính sách và công việc đối nội của Việt Nam. Trung Quốc dù không thích điều này cũng không có cách nào khác ngoài ‘cắn răng chịu đựng’. Nhưng đó là trong trường hợp quan hệ ngoại giao bình thường. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc kể từ khi Đảng cộng sản hai nước thành lập, và đặc biệt là khi hai nhà nước của hai chế độ cộng sản được thành lập (Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1945, và Cộng hoà Nhân Dân Trung Hoa năm 1949) đã không là bình thường nữa, nó là quan hệ ‘anh em’, gắn chặt như ‘răng với môi’ (lời của Mao Trạch Đông).

Để hình thành được mối quan hệ đó, có một sự thật không thể phủ nhận là Trung Quốc là giúp đỡ và đóng một vai trò không hề nhỏ trong việc xây dựng, đào tạo, tài trợ và trang bị cho việc phát triển quân đội của Việt Nam, từ một đội quân nhỏ lẻ đến một lực lượng quân sự hùng mạnh, thiện chiến, đánh thắng Pháp, Mĩ và Việt Nam Cộng Hoà trong gần 30 năm. Mặc dù, cả hai bên đều công nhận một vai trò quan trọng của Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến của Việt Nam, cả chống Pháp và đánh Mĩ, nhưng không bên nào công bố một cách đầy đủ sự đóng góp của Trung Quốc trong khoảng thời gian đó. Chỉ biết rằng, giới quan sát và nghiên cứu đã nhận định rằng sự đóng góp của cộng sản quốc tế, đặc biệt là của Trung Quốc là mang tính quyết định, giúp cho quân đội Bắc Việt có thể tồn tại dưới mưa bom bão đạn của Mĩ, và sau đó đánh bại miền Nam Việt Nam. Dù trong và sau khi cuộc chiến biên giới 1979 xảy ra, Trung Quốc đã lặng lẽ chứng minh vai trò của mình trong cuộc chiến của Việt Nam với Pháp và Mĩ như để hợp lí hoá lý do gây chiến, nhưng phía Việt Nam chưa có một công bố chính thức nào. Dù hai bên không công bố chính thức về vai trò và sự trợ giúp của Trung Quốc, nhưng giới nghiên cứu đã dự đoán đó là một sự trợ giúp vô cùng lớn. Lớn đủ để giới lãnh đạo Trung Quốc tin rằng đã nắm được ‘thóp’ của Việt Nam, và do đó đủ để làm giới lãnh đaọ chóp bu Trung Quốc sốc khi chứng kiến sự ‘phản bội’ và ‘vong ơn’ của Việt Nam sau năm 1975, đến nỗi Trung Quốc phải cho Việt Nam ‘một bài học’.

Vậy nền tảng để đưa ra bài học đó là gì?

 Cuốn sách ‘Building Ho’s Army – Chinese Military Assistance to North Vietnam’ (Xây dựng bộ đội ông Hồ – Sự trợ giúp của quân đội Trung Quốc đối với Bắc Việt Nam) của Lí Hiểu Bình nhằm phác hoạ cơ bản vai trò của Trung Quốc trong việc xây dựng ‘bộ đội cụ Hồ’ trong suốt thời kì chiến tranh Việt Nam. Đồng thời cung cấp các tài liệu và phân tích sự mâu thuẫn, và bất mãn giữa nhiều lãnh đạo Việt Nam khi Trung Quốc đóng vai trò anh cả (big brother) trong suốt quá trình này. Tác giả cũng cho rằng sự viện trợ của Trung Quốc dù lớn, cũng không làm giảm đi các căng thẳng giữa hai bên, và không cải thiện được mối quan hệ Việt – Trung dẫn đến sự gia tăng mất niềm tin, và chiến tranh ở cuối thập niên 70. Về cơ bản, cuốn sách đi vào tìm câu trả lời cho câu hỏi tại sao Mao chủ tịch lại đồng ý, và ngay lập tức trợ cấp, giúp đỡ Hồ chủ tịch xây dựng quân đội, từ một nhóm lính cần nông đến một đội quân máu chiến; các sự trợ giúp được diễn ra như thế nào với phạm vi, quy mô ra sao; và căng thẳng, xung đột đã sinh sôi nảy nở như thế nào dưới một mối quan hệ được cho là thắm thiết, để dẫn đến cuộc chiến đẫm máu năm 1979.

Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam 1950 – 1960

Theo các tài liệu mà Lí Hiểu Bình nêu ra trong cuốn sách (hầu hết các tài liệu được sử dụng trong cuốn sách này là nguồn của các cơ quan Đảng, quân đội và nhà nước Trung Quốc, cũng như các cuộc phỏng vấn và hồi ký của những người lính Trung Quốc tham chiến). Trong vòng 6 năm từ 1950 đến 1956, Trung Quốc đã cung cấp cho Bắc Việt Nam gần như toàn bộ những gì mà ông Hồ Chí Minh yêu cầu, bao gồm: 115.000 súng hạng nhẹ, 58 triệu băng đạn, 4.630 khẩu pháo, hơn một triệu đầu pháo, 840.000 lựu đạn, 1200 phương tiện vận tải các loại, 1,4 triệu quân phục, 14.000 tấn lương thực, 26.000 tấn nhiên liệu. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng cung cấp cho Bắc Việt Nam các loại hàng hoá, nhiên vật liệu khác trị giá ước tính khoảng 43,2 triệu đô la. Tiếp nhận và điều trị cho 1.143 lính Bắc Việt bị thương tại căn cứ quân đội Trung quốc gần biên giới Việt Nam. Đào tạo về quân sự, công nghệ, chuyên môn, y tế cho hơn 25.000 nhân viên tại Trung Quốc. Tính đến cuối năm 1954, Trung Quốc đã giúp Bắc Việt thành lập năm sư đoàn bộ binh, trong đó có một sư đoàn pháo binh, một sư đoàn pháo phòng không, và một trung đoàn cảnh vệ. Một số trung đoàn được đào tạo hoàn toàn tại Trung Quốc, như Trung đoàn 88, Trung đoàn 102 thuộc Sư đoàn 308 với khoảng 12.000 lính; Trung đoàn 165, Trung đoàn 174, và Trung đoàn 209 thuộc Sư đoàn 312. Tại thời điểm đầu tiên của sự trợ giúp, có khoảng 570 cố vấn quân sự làm việc tại các đơn vị quân đội của Bắc Việt, trong đó có 10 thiếu tướng, 3 trung tướng, một thượng tướng, và một đại tướng thuộc PLA. Kể từ khi thành lập quân đội năm 1944 với 34 lính nông dân đến khi kết thúc kháng chiến chống Pháp, Bắc Việt Nam đã thiết lập đội quân hùng mạnh với 230.000 quân thường trực, và khoảng hơn 120.000 dân quân địa phương. Đến tháng 4 năm 1956, số quân thường trực của Bắc Việt đã lên đến 320.000 quân, bao gồm cả bộ binh, không quân và hải quân. Tính đến cuối năm 1960, tổng số viện trợ của Trung Quốc cho Bắc Việt Nam lên đến 1.9 tỉ đô la, chiếm 1/3 tổng số viện trợ nước ngoài của Trung Quốc.

Trung Quốc trong chiến tranh Việt Nam 1965 – 1974

 Giai đoạn từ năm 1954, khi Bắc Kinh mở đại sứ quán tại Hà Nội, Mao bắt đầu cân nhắc can thiệp sâu hơn vào chiến tranh Việt Nam khi cảm nhận được mối đe doạ của phương tây. Nhất là trong bối cảnh Hoa Kì bắt đầu xây dựng các căn cứ quân sự xung quanh Trung Quốc ở Nhật, Nam Hàn, Philipines, và cuối cũng sẽ là Nam Việt Nam. Từ năm 1965 đến 1968, Trung Quốc gửi 23 sư đoàn bộ binh tham chiến với khoảng 320.000 quân, nhưng chủ yếu làm các công tác hậu cần phía Lào, dọc theo đường mòn HCM. Đỉnh điểm vào năm 1967 có khoảng 170.000 lính Trung Quốc trực tiếp tham chiến, trong đó có 44.000 lính tham gia các trận đánh và phòng thủ khi Mĩ dải bom miền Bắc. Tính đến năm 1973, tại chiến trường Lào – Việt Nam có 1.984 lính Trung Quốc bị giết, và 7.600 bị thương.

Tính đến năm 1974, Trung Quốc đã cung cấp cho Bắc Việt 2.14 triệu súng trường và súng tự động các loại, 1.2 tỉ băng đạn, 70.000 khẩu pháo, 18.1 triệu đầu pháo, 170 máy bay chiến đấu, 176 pháo hạm, 552 xe tăng, 320 phương tiện quân sự, 16.000 xe tải, 18.240 tấn thuốc nổ, 11.2 tỉ bộ quân phục. Trong những năm 1971-1972 Trung Quốc cũng bắt đầu cung cấp cho Bắc Việt 180 tên lửa phòng không cho chính Trung Quốc sản xuất, cùng với các loại thiết bị khác. Như vậy, trong tổng thời gian  chiến tranh Việt Nam, tổng các khoảng viện trợ của Trung Quốc cho Bắc Việt trị giá 20 tỉ đô la.

Cùng với rất nhiều căng thẳng, bất đồng, mâu thuẫn trong quá trình hợp tác, trợ giúp giữa Trung Quốc với Việt Nam trong khuôn khổ tình đồng chí cộng sản; và “sự nồng thắm đột ngột giữa Việt Nam với Liên Xô đầu những năm 70 trên lưng Trung Quốc’ (ít nhất là trong suy nghĩ của Đặng Tiểu Bình) chính là nền tảng mà Đặng Tiểu Bình muốn ‘dạy cho Việt Nam một bài học’.

Nhưng liệu có phải như vậy? Có phải Đặng Tiểu Bình chỉ đơn giản muốn ‘dạy Việt Nam một bài học’?

Việt Nam kẻ lằn ranh cho chính sách trên biển

Việt Nam là quốc gia có lịch sử gắn liền với những cuộc đấu tranh chống xâm lược, do đó, phòng thủ luôn là mối quan tâm hàng đầu. Hiện nay, trong bối cảnh xuất hiện ngày càng nhiều các chiến lược cạnh tranh, cũng như sự trỗi dậy của một Trung Quốc ngang ngược, Việt Nam cần phải thay đổi chính sách quốc phòng của mình.

Sách Trắng Quốc Phòng được công bố mới đây – tháng 11 năm 2019, không cung cấp chi tiết về những sự thay đổi đối với cơ cấu, tổ chức của lực lượng quân đội, mà chỉ đề cập đến sự điều chỉnh đối với ngân sách quốc phòng tính theo phần trăm GDP. Tuy nhiên, Sách Trắng đề cập chi tiết về nội dung chiến lược, và tán thành các đối sách quốc gia đối với việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Bao gồm, các yếu tố của nguyên tắc chiến lược dựa trên các trụ cột là tự lực, tự cường, và giải quyết mọi tranh chấp một cách hoà bình.

Nhiều nguyên tắc được tái khẳng định trong Sách Trắng, bao gồm cụm từ ‘ba không’. Đó là không có đồng minh quân sự; không cho phép đặt căn cứ quân sự nước ngoài tại Việt nam, không cho phép sử dụng lãnh thổ Việt Nam cho các hoạt động quân sự nước ngoài; và không đứng về một bên để chống lại bên kia. Mặc dù gắn chặt với chính sách không lệ thuộc vào nước ngoài, tuy nhiên Sách Trắng nhấn mạnh một tuyên bố quan trọng rằng: tất cả mọi hình thức phòng thủ đều có thể được cân nhắc khi chủ quyền quốc gia bị xâm phạm. Bên cạnh đó, thông qua Sách Trắng, Việt Nam cũng thể hiện rõ ràng hơn sự chân thành của mình đối với tiến trình hội nhập quốc tế. Nhấn mạnh rằng, Việt Nam tôn trọng và luôn mong muốn áp dụng các nguyên tắc pháp lý quốc tế về hàng hải để giải quyết tranh chấp, như là một biện pháp quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích của Việt nam, cũng như vai trò quốc tế của Việt Nam trong ba thế kỉ vừa qua, kể từ khi Việt Nam tiến hành cải cách và thúc đẩy nền kinh tế phát triển từ năm 1986.

Sách Trắng Quốc phòng của Việt Nam tiếp cận tình hình thế giới, đó là sự phát triển nhanh chóng đến trật tự đa cực, nơi mà mọi quốc gia đều phải ‘điều chỉnh chiến lược nhằm đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu’. Đối với khu vực Thái Bình Dương, bao gồm khu vực Đông Nam Á sẽ ‘tiếp tục là trung tâm cho sự phát triển năng động và chiếm một vị trí địa kinh tế, địa chính trị và địa chiến lược ngày càng quan trọng’.

Tuy nhiên, đây cũng là khu vực đấu trường cho các quốc gia lớn. Sách Trắng đặc biệt nêu tên một số sáng kiến, bao gồm: Sáng kiến Một Vành Đai, Một Con Đường của Trung Quốc; Sáng kiến Ấn Độ – Thái Bình Dương Tự do và Mở của Hoa Kỳ; và Chính sách Ấn độ hướng đông. Trong số các yếu tố gây bất ổn, đe doạ sự ổn định, hoà bình và thịnh vượng của khu vực chính là các tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa – được Việt Nam gọi là Biển Đông. Sách Trắng năm 2019, hay cũng như trong các thông cáo khác của Việt Nam, luôn luôn tránh gọi tên quốc gia gây căng thẳng. Tuy vậy, so với bản năm 2009 thì sự thể hiện đã rõ ràng hơn khi tuyên bố rằng các thách thức ngày càng tệ hơn trong vòng hơn một thập kỉ qua:

‘Những sự phát triển mới ở Biển Đông, bao gồm các hành động đơn phương, sử dụng sức mạnh cưỡng chế, vi phạm pháp luật quốc tế, quân sự hoá, thay đổi hiện trạng ổn định, và xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam được quy định theo luật pháp quốc tế đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của các quốc gia. Tạo nên sự lo lắng và đe doạ đến nền hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không của khu vực’.

Việt Nam luôn đứng đầu trước những thách thức từ Trung Quốc ở Biển Đông, từ đe doạ của việc quân sự hoá các đảo nhân tạo, cho đến việc thử nghiệm khả năng của các cơ sở hạ tầng ngày càng nhằm vào mục tiêu gây căng thẳng. Trong vài năm qua, các hoạt động kinh tế của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đã là đối tượng cho những thách thức dài hạn của Bắc Kinh, dẫn đến việc rút lui của một số dự án khai thác dầu khí, bao gồm cả yêu cầu rút lui đối với Repsol năm 2017, và cả những cuộc đối đầu gần đây tại Bãi Tư Chính.

Sách Trắng nhấn mạnh rằng, Việt Nam là một quốc gia ven biển. Do đó, Việt Nam luôn đề cao cảnh giác để bảo vệ sự an toàn trên biển, và nhấn mạnh rằng Việt Nam tôn trọng tự do hàng hải và hàng không, tự do thương mại và các hoạt động khai thác kinh tế một các hoà bình dựa trên quy định của luật pháp quốc tế.

Một phần quan trọng khác của Sách Trắng tuyên bố rằng: ‘Việt Nam không chấp nhận sự kết hợp phòng thủ dựa trên áp lực hay bất cứ điều kiện cưỡng chế nào’. Điều này thể hiện sự từ chối rõ ràng đối với bất cứ mối quan hệ bất bình đẳng nào, và khẳng định quyền tự chủ trong các quyết định liên quan đến mối quan hệ quốc phòng và lợi ích an ninh. Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn luôn chào đón các mối quan hệ hợp tác thân thiện. Sách Trắng cũng khẳng định thiện chí của Việt Nam trong việc phối hợp bảo vệ biên giới, cả trên biển và trên đất liền. Các hoạt động có thể bao gồm kết hợp tuần tra, trao đổi – một vấn đề đặc biệt quan trọng do các căng thẳng tranh chấp trên biển, và những đe doạ đối với chủ quyền của Việt nam thông qua việc Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hồi tháng 7. Đây cũng chính là sự ngầm ám chỉ rằng, Việt Nam phản đối các tuyên bố yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông, khi mà họ cố gắng định hình khung giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp song phương, và từ chối các dàn xếp đa phương với sự tham gia của bên thứ ba, như Hoa Kỳ.

Sách Trắng phiên bản năm 2019 đề cập chi tiết hơn tính chất leo thang của các mối đe doạ ở Biển Đông so với các phiên bản khác trong quá khứ, đồng thời thể hiển quan điểm của Hà Nội đối với tình hình hiện tại. Hà Nội ủng hộ việc đi qua vô hại trên biển, phù hợp với nguyên tắc được áp dụng thường xuyên bởi Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh nhằm đảm bảo quyền tự do hàng hải, cũng như đảm bảo an toàn, an ninh hàng hải và hàng không trên Biển Đông.

Đây là một trong những hình thức ủng hộ mạnh mẽ nhất mà Việt Nam thể hiện, đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các bên tranh chấp khác ở khu vực Đông Nam Á đang có xu hướng xem nhẹ hình thức này như là biện pháp bảo đảm tự do hàng hải. Sách Trắng của Việt Nam cũng kêu gọi các bên không có thêm những hành động nhằm làm phức tạp thêm tình hình, hoặc mở rộng tranh chấp. Đồng thời tránh quân sự hoá, đe doạ hoặc sử dụng vũ lực. Việt Nam rõ ràng có lí do để lo lắng đối với các vùng biển tranh chấp, khi mà năng lực quân sự của Trung Quốc là rất hữu hình.

Một đoạn quan trọng của Sách Trắng nói rằng: ‘Việt Nam chào đón các tàu hải quân, tàu tuần tra, bảo vệ bờ biển, và các tổ chức quốc tế thực hiện các chuyến thăm viếng bình thường, hoặc dừng lại tại cảng của Việt Nam để sửa chữa, bổ sung hậu cần, hoặc tiếp nhiên liệu kĩ thuật’. Điều này có vẻ như Việt Nam đã thẳng thắn từ chối một vài đề nghị của Trung Quốc nhằm hạn chế sự tham gia của các yếu tố bên ngoài vào những dự án chung của các quốc gia trong khu vực. Đó cũng là điều mà Trung Quốc mong muốn được quy định trong bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (CoC) giữa Trung Quốc với ASEAN đang trong quá trình đàm phán, thoả thuận. Sách Trắng 2019 thể hiện một sự tách dời ngày càng gia tăng của Hà Nội đối với Bắc Kinh do các tranh chấp trên Biển Đông. Không những vậy, Sách Trắng 2019 còn truyền tải nhận thức của Hà Nội đối với những đe doạ hiển hình, và tuyên bố về thiện chí hợp tác của Việt Nam với tất cả các quốc gia, cũng như sự sẵn sàng để mở rộng các mối quan hệ quốc phòng, bất kể còn tồn tại những sự khác biệt về chính trị hay chênh lệch về kinh tế. Sách Trắng cũng đồng thời kẻ rõ lằn ranh đỏ – đó là chủ quyền quốc gia – và tái khẳng định lịch sử hào hùng đánh đuổi ngoại xâm – một thông điệp rất rõ ràng đến những quốc gia có ý định xâm lăng, và tái khẳng định mạnh mẽ sự xác quyết của Việt Nam nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và các quyền kinh tế ven biển.

Nguồn: ‘Vietnam Draws Lines in the Sea‘ by Huong Thu Le

Trung Quốc và Biển Đông: ‘Ngón đòn’ với Phillipines không nên áp dụng với Việt Nam

Bắc Kinh không nên đối xử với Việt nam như cách họ đối xử với Phillipines liên quan đến những tranh chấp ở Biển Đông. Đó không phải là cách hiệu quả và nó cũng không giúp cho tình hình hội nhập kinh tế khu vực nói chung.

Thật ra Việt Nam không hề xem Trung Quốc là bạn giống như cách mà Tổng thống Duterte của Phillipines thể hiện. Thông điệp được Hà Nội phát đi tuần này qua sự triển khai lực lượng nhằm chống lại các tàu của Trung quốc đi vào hoạt động ở những vùng lãnh thổ có tranh chấp.

Trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã có những chiến thắng ngoại giao ấn tượng thông qua việc đưa Phillipines từ kẻ đối đầu thành người bạn bình thường, cũng như sự tăng cường các kế hoạch để biến Biển Đông thành biển nhà của mình.

Quay trở lại thời điểm tháng tư năm 2018, sau những lời đường mật của Trung Quốc về tình bạn thân thiết, tổng thống Duterte đã thay đổi 180 độ thái độ của mình về việc khẳng định chủ quyền của Phillipines tại các vùng đảo tranh chấp. Một năm trước đó Phillipines cùng những đồng minh thân cận, bao gồm U.S đã giành được phán quyết có lợi từ Toà Trọng tài Quốc tế, tuyên bố rằng Trung Quốc không có thẩm quyền lịch sử trên các vùng biển của Biển Đông. Tuy vậy, tổng thống Duterte đã không mạnh mẽ yêu cầu phán quyết được thực thi. Thay vào đó, ông ta đường như đã phe cùng Bắc Kinh trong các tranh chấp và tìm kiếm sự thoái lui trong mối quan hệ đồng minh với Hoa Kì.

Mặc dù phải đối đầu với nhiều sự khiêu khích ngay trong lãnh thổ của mình, nhưng Phillipines đã thể hiện sự lưỡng lự trong việc đối đầu với Trung Quốc. Điều này có lẽ do tổng thống Duterte nuôi niềm hi vọng rằng trở nên thân thiện với Trung Quốc  sẽ mang lại hoà bình ở khu vực, và nguồn đầu tư từ Trung Quốc sẽ đổ vào thị trường Phillipines. Tuy nhiên Phillipines đang phải trả giá cho những quyết định này.

Gần đây Bắc Kinh đang nỗ lực xử lý mối quan hệ căng thẳng với Việt Nam bằng ngón đòn đã dành cho Phillipines. Tuần này Chủ tich nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã tiếp Chủ tich Quốc Hội Việt Nam, bà Nguyễn Thị Kim Ngân và ‘kêu gọi hai nước cần tiếp tục thúc đẩy tình bạn hữu nghị, cũng như mở rộng sự hợp tác nhằm đưa mối quan hệ song phương lên một tầm cao mới’, theo thông tin từ tờ Global Times.

Tờ báo này cũng thông tin thêm rằng, đối với các tranh chấp trên Biển Đông, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh quan điểm rằng ‘cả hai bên nên cư xử đúng mực trên cơ sở tôn trọng lợi ích của hai quốc gia cũng như đối với người dân của hai nước’, ‘thật tâm thực thi các đồng thuận đã đạt được từ hai đảng, hai nhà nước, nhằm đảm bảo hoà bình và ổn định trên biển’.

Cụm từ ‘người hàng xóm thân thiện’ đã không được dùng cho Việt Nam, trong khi đó là cụm từ thân quen được Tập Cận Bình sử dụng đối với Phillipines trong suốt chuyến thăm Manila năm 2018, ông nói trong một bài xã luận đăng trên tờ Global Times ‘là những người hàng xóm thân thiện trong vùng biển, Trung Quốc và Phillipines chia sẻ sự gần gũi về địa lý cũng như một mối quan hệ bền chặt giữa hai dân tộc, hai nền văn hoá’.

Ngược lại với Phillipines, Việt Nam phản đối kế sách biến Biển Đông thành biển nhà của Trung Quốc, đồng thời tuyên bố chủ quyền với những phần biển cụ thể và kiên quyết triển khai lực lượng bảo vệ đến từng centimet mặt nước. Điều này đã được thể hiện cụ thể trong cuộc đối đầu trên biển những ngày vừa qua.

Cùng với đó, Việt Nam đang mạnh mẽ thúc đẩy việc thông qua bộ quy tắc ứng xử CoC nhằm chống lại những hoạt động phi pháp của Trung Quốc đang diễn ra trên Biển Đông. Ví dụ như việc xây dựng các đảo nhân tạo, phong toả và lắp đặt các vũ khí tấn công cũng như các vùng nhận diện phòng không.

Thật khó để nhận định về lập trường cứng rắn của Việt Nam liệu có mang đến một hồi kết trong hoà bình. Tuy nhiên, có một điều rõ ràng là tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ làm yếu đi quá trình hội nhập kinh tế trong khu vực, cũng như làm tăng thêm nỗi lo sợ đối với những nhà đầu tư.

Nguồn: ‘South China Sea: Bejing Shouldn’t Treat Vietnam Like Philippines

Hệ thống giáo dục hàng đầu thế giới của Phần Lan hoạt động như thế nào

Hệ thống giáo dục của Phần Lan gần đây đang nhận được rất nhiều sự ngợi ca, nó được xếp hạng là một trong những hệ thống giáo dục tốt nhất thế giới và đang thế hiện sự nổi trội hơn so với hệ thống của Mĩ về khía cạnh đọc hiểu, khoa học và toán học. Hơn thế nữa, hệ thống giáo dục của Phần Lan đã trở thành một sản phẩm giáo dục hàng đầu kể từ năm 2000 khi áp dụng chương trình đánh giá học sinh quốc tế (Program for International Student Assessment – PISA) được thực hiện ba năm một lần.

Nếu bạn hỏi ai đó về những điều tuyệt vời ở các trường học Phần Lan, bạn sẽ được cung cấp những điều thú vị. Ví dụ như thời gian đến trường ngắn, và không có những kì thi hay kiểm tra bắt buộc nào.

Toàn bộ cấu trúc của hệ thống giáo dục Phần Lan hoạt động dưới sự điều chỉnh của những nguyên tắc nền tảng rằng bình đẳng trong tiếp cận giáo dục là quyền hiến định, và mỗi người nên được tự do lựa chọn con đường học vấn của mình mà không có bất kỳ giới hạn nào.

Dưới đây là cách thức vận hành hệ thống giáo dục của Phần Lan dưới sự soi chiếu của hai nguyên tắc cơ bản nêu trên.

Trẻ em được giáo dục từ sớm

Chương trình giáo dục sớm đối với trẻ em của Phần Lan được thiết kế dựa trên những khái niệm học và chơi (learning through play). Hãy tưởng tượng rằng bạn là một người mẹ ở Phần Lan. Bạn nhận được những trợ cấp của chính phủ về thời gian nghỉ thai sản, hay những trợ cấp thai sản khác, thậm chí cả một chiếc hộp chăm sóc trẻ sơ sinh. Do đó bạn cảm thấy thoải mái trong những tháng sinh đẻ đầu tiên ở một trong những quốc gia tốt nhất để nuôi dưỡng những đứa trẻ. Bây giờ bạn bắt đầu nghĩ đến việc lựa chọn phương cách giáo dục cho con bạn.

Những trẻ em ở Phần Lan không bắt buộc phải đến trường cho đến khi chúng lên sáu, thời điểm bắt đầu của giáo dục tiểu học. Các phụ huynh hoàn toàn chủ động trong việc nuôi dạy con em mình ở những năm đầu đời này bằng các hoạt động vui chơi và gắn kết với chúng. Tuy nhiên, nếu bạn muốn cho con bạn bắt đầu một hành trang giáo dục sớm, hệ thống giáo dục của Phần Lan cũng cung cấp chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ em (Early Childhood Education and Care – ECEC) ở những năm đầu đời này. Theo trang web của Trung tâm Giáo dục Quốc gia Phần Lan, chương trình là sự kết hợp của phương thức học qua chơi nhằm hướng đến sự phát triển cân bằng cho trẻ. Mặc dù ECEC được hướng dẫn bởi Chương trình giáo dục nền tảng Quốc gia, chính quyền địa phương chịu trách nhiệm đối với dịch vụ ECEC với quyền tự quyết khá rộng, cho phép các trường học địa phương quyền quyết định liên quan đến các vấn đề ngân sách, quy mô lớp học hay về mục tiêu đào tạo.

Các bậc phụ huynh sẽ phải chịu một khoản phí nhỏ, khoảng 14% cho hoá đơn toàn khóa học, do phần lớn đã được hỗ trợ bởi chính phủ. Tuy nhiên học phí 14% này không phải được tính trên mỗi học sinh, mà được tính trên mỗi hộ gia đình riêng lẻ dựa trên mức thu nhập và số lượng trẻ em trong gia đình đó. Chương trình đào tạo sớm cho trẻ em ở Phần Lan đã trở nên phổ biến với khoảng 80% trẻ em ở độ tuổi từ 3 – 5 đăng ký vào các lớp học.

Giáo dục cơ bản (Bữa ăn miễn phí)

Khi con bạn bước vào năm thứ bảy của cuộc đời, đó là thời gian hợp lý cho giáo dục cơ bản. Phần Lan không phân chia chương trình giáo dục cơ bản thành các bậc tiểu học hay trung học cơ sở, thay vào đó là một chương trình 9 năm liên  tục với 190 ngày đến trường mỗi năm. Cũng như chương trình ECEC, các nhà làm chính sách tạo một không gian khá thoải mái cho các trường học và giáo viên để chỉnh sửa lại chương trình học, nhằm tạo điều kiện tốt nhất đối với những học sinh đặc biệt hoặc học sinh có khiếm khuyết về thể chất, tinh thần.

Theo Trung tâm Giáo dục Quốc gia Phần Lan, mục tiêu của chương trình giáo dục cơ bản nhằm để hỗ trợ quá trình phát triển của học sinh hướng đến lòng nhân ái và trở thành những cá nhân có trách nhiệm, đạo đức trong xã hội. Thêm vào đó, chương trình hướng đến cung cấp những kiến thức và kĩ năng cần thiết trong cuộc sống cho học sinh. Sự tự chủ của các trường còn bao gồm các quyết định liên quan đến việc kiểm tra, đánh giá học sinh, và cả các vấn đề liên quan đến thời khoá biểu hàng ngày và hàng tuần.

Những quyền tự quyết kiểu như này thường làm cho các phụ huynh lo lắng, rằng sẽ như thế nào nếu con bạn dành cả ngày để học về những điều vô bổ, dù rằng đó là những điều khá thú vị. Tuy vậy, những bậc phụ huynh ở Phần Lan không cần phải quá lo lắng về điều này, bởi vì việc dạy học ở đây được đề cao và đó là một lĩnh vực chuyên sâu. Hầu hết các giáo viên đều có bằng thạc sĩ, riêng đối với các giáo viên thuộc chương trình giáo dục cơ bản việc có bằng thạc sĩ là điều bắt buộc. Có 80% giáo viên của chương trình giáo dục cơ bản tham gia vào những khoá đào tạo chuyên nghiệp nhằm không ngừng phát triển kiến thức và kĩ năng. Điều này nhằm để đảm bảo rằng việc dạy học ở Phần Lan dần trở thành một khoa học giáo dục – điều đã được truyền cảm hứng một cách hợp lý từ nền sư phạm Mỹ qua nhiều năm.

Pasi Sahlberg – nhà nghiên cứu, nhà giáo dục học Phần Lan đã viết trên báo Washington Post rằng ‘dễ hiểu rằng tư duy giáo dục thực dụng, lấy trẻ em làm trung tâm của John Dewey đã được chấp nhận rộng rãi trong các nhà giáo dục Phần Lan’.  Nhiều trường học ở Phần Lan đã áp dụng quan điểm giáo dục dân chủ của Dewey bằng cách tăng cường khả năng tự quyết định đối với cuộc sống của học sinh cũng như việc học tập của chúng ở trường.

Trung tâm Giáo dục Quốc gia Phần Lan thúc đẩy sự tự đánh giá và cải thiện đối với các trường và giáo viên của họ. Đối với chương trình giáo dục cơ bản, Phần Lan không thực hiện bất kỳ một kỳ kiểm tra bắt buộc nào, mặc dù vậy họ có thực hiện những bài đánh giá kết quả học tập ở phạm vi quốc gia. Tuy nhiên, các đánh giá trong chương trình giáo dục cơ bản của Phần Lan là dựa trên mẫu chứ không toàn diện, và nó cũng không được dùng để xếp hạng các trường hay để quyết định việc các trường sẽ được cung cấp ngân sách như thế nào. Thay vào đó, việc đánh giá dường như nhằm để tiếp cận chất lượng giảng dạy của các trường và để cung cấp cho các nhà quản trị nhằm những mục đích phát triển.

Trung học phổ thông ở Phần Lan

Sau giáo dục cơ bản chín năm, học sinh có thể chọn tiếp tục học lên trung học phổ thông, và điều này không phải là bắt buộc. Mặc dù vậy, khoảng 90% học sinh ở Phần Lan chọn học trung học phổ thông ngay sau khi dời khỏi những mái trường của giáo dục cơ bản, 10 phần trăm còn lại có thể chọn để học trung học phổ thông ở những thời điểm khác mà không phải trả bất kỳ chi phí nào.

Trung học phổ thông được chia thành đào tạo chung (giáo dục phổ thông) và đạo tạo nghề và cùng trải qua thời gian đào tạo là ba năm. Giáo dục phổ thông được tổ chức dưới hình thức các khoá học (coursework), tuy vậy học sinh được khá thoải mái trong việc lên kế hoạch học tập. Đến cuối kỳ học, học sinh được yêu cầu tham gia kì thi kiểm tra quốc gia, những điểm số này được sử dụng như một phần của hồ sơ ứng tuyển vào cao đẳng, đại học.

Đối với đào tạo nghề thì chủ yếu tập trung vào vấn đề hướng nghiệp và kết hợp giữa đạo tạo nghề cùng với chương trình học tập phổ thông ở trường. Có khoảng 40% học sinh chọn đào tạo nghề sau khi hoàn thành khoá giáo dục cơ bản. Các học sinh của khoá đào tạo nghề sẽ nhận chứng nhận đào tạo sau khi hoàn thành một kế hoạch học tập cá nhân.

Điều đáng chú ý trong chương trình giáo dục trung học phổ thông là học sinh không hoàn toàn bị trói buộc trong những sự lựa chọn nhất định nào (giáo dục phổ thông hoặc đào tạo nghề). Với sự tận tâm hướng đến giáo dục và khả năng ra quyết định của các cá nhân, các chương trình giáo dục của Phần Lan đều có thể được hoà nhập nhằm hướng đến tinh thần khám phá cái mới và sáng tạo của học sinh.

Giáo dục đại học và sau đại học

Những học sinh đã hoàn thành xuất sắc khoá học ở cấp bậc trung học phổ thông không cần phải lo lắng về khả năng chi trả cho các chương trình giáo dục đại học, vì giáo dục đại học là hoàn toàn miễn phí.

Một điều cần ghi nhớ rằng, bình đẳng trong việc tiếp cận giáo dục là quyền hiến định trong pháp luật Phần Lan. Học sinh chỉ được yêu cầu chi trả chi phí cho việc mua sách, phương tiện đi lại hay những cung cấp khác từ nhà trường. Hơn thế nữa, các trường đại học cũng cung cấp nhiều hỗ trợ tài chính cho sinh viên của mình.

Các trường đại học của Phần Lan được chia làm hai loại, bao gồm đại học (Universities) và đại học ứng dụng khoa học (Universities of applied sciences) với sự nhấn mạnh các ứng dụng thực tiễn. Học sinh sẽ lấy bằng cử nhân sau khi hoàn thành 4 năm học toàn thời gian, bao gồm các môn học bắt buộc, các môn tự chọn và một dự án (có thể là khoá luận tốt nghiệp). Đối với các chương trình thạc sĩ, khoảng thời gian sẽ kéo dài từ năm đến sáu năm và sinh viên được cho phép học lên thạc sĩ ngay sau khi hoàn thành khoá đào tạo cử nhân.

Trong trường hợp học sinh đã hoàn thành khoá đào tạo nghề, họ có thể tiếp tục con đường học đại học, đặc biệt đối với các trường đại học ứng dụng khoa học với những khoá đào tạo được thiết kế dễ dàng để thích nghi.

Phần Lan coi trọng công bằng xã hội và mong muốn xây dựng một lực lượng lao động cạnh tranh, do vậy đào tạo người thành niên được thúc đẩy mạnh mẽ. Các doanh nghiệp có thể yêu cầu để phát triển nhân viên, còn những người thất nghiệp thì được cung cấp các khoá đào tạo lao động. Tuy nhiên, việc đào tạo người thành niên không miễn phí như các chương trình đạo tạo cơ bản hay phổ thông, nhưng cũng được trợ  cấp khá nhiều, dựa trên hoàn cảnh của mỗi cá nhân.

Câu hỏi đặt ra lúc này là làm thế nào mà Phần Lan  có thể tạo nên một hệ thống giáo dục toàn diện và phổ quát như vậy cho mọi công dân. Câu trả lời khá đơn giản, đó là: sự chung sức của cả cộng đồng. Bên cạnh việc đề cao quyền được học tập trong hiến pháp, người Phần Lan coi trọng giáo dục và đầu tư nhiều thời gian, công sức để xây dựng một hệ hống nghiên cứu giáo dục tốt nhất mà 80% những nghiên cứu đó đến từ Mỹ.

Đối với những quốc gia khác có mong muốn học tập hình mẫu của hệ thống giáo dục Phần Lan, họ không cần phải sao chép, nhưng họ cần sự mãnh liệt và nhiệt tâm trong việc định nghĩa tầm quan trọng của giáo dục đối với đất nước.

Nguồn: ‘How does Finland’s top-ranking education system work?