12 phẩm chất sinh viên Luật nên(phải) có

1 Self-belief –  Niềm tin nội tâm

Niềm tin nội tâm là điều mà ai cũng nên có. Đơn giản là bạn sẽ không làm được gì nếu chính bạn không tin bạn có khả năng làm được. Henry Ford (Người sáng lập hãng xe Ford) nói rằng “Bất kể bạn nghĩ bạn làm được hay không làm được, bạn đều có thể đúng”.

Tại sao người học Luật cần có niềm tin nội tâm? Bởi vì Luật là chuyên ngành khác biệt so với những chuyên ngành khác mà bạn có thể học trong tương lai. Sẽ có những khoảng thời gian bạn không thể hiểu được Luật là gì, và tại sao Luật lại như vậy… Nhưng sẽ đến những khoảng thời gian bạn hiểu Luật một cách toàn diện, niềm tin nội tâm là thứ bạn cần phải có để khiến luật phát huy tác dụng của nó. (Khiến Luật phát huy tác dụng trong trường hợp này nghĩa là, bạn sẽ là người nhận ra và bảo vệ những giá trị của pháp luật trong bất cứ trường hợp nào mà những giá trị đó bị xâm phạm. Ví dụ, bạn sẽ lên tiếng đòi huỷ bỏ một đạo luật khiến mỗi cá nhân, hoặc mỗi nhóm người trở nên bất bình đẳng so với cá nhân hoặc nhóm khác; bạn sẽ tố cáo những hành vi sai trái theo quy định của pháp luật, hoặc bạn sẽ đấu tranh để loại bỏ những đạo luật xâm hại đến các quyền tự nhiên của con người, hoặc bất cứ đạo luật nào có tiềm năng phá huỷ các giá trị nền tảng của xã hội… Để làm được những điều này, bạn cần có niềm tin vào bản thân mình, dựa trên những kiến thức và nhận thức của chính mình – Giải thích thêm của người dịch)

Nếu bạn đang thiếu niềm tin ở chính mình thì làm sao có thể học Luật? Xin được nhấn mạnh rằng tất cả 12 phẩm chất được nêu ở đây đều có thể có được thông qua các giai đoạn “bỏ hạt, vun trồng” để “nảy mầm, mọc cây, đơm hoa, kết trái”. Nói cách khác, bạn có thể tự mang đến niềm tin cho mình. Trong bộ phim “The Verdict”, nhân vật Paul Newman nói: “trong tôn giáo của tôi, mọi người thường nói “phải hành động như bạn đã có niềm tin, thì niềm tin sẽ được mang đến cho bạn””. Vậy nên, nếu bạn là người thiếu niềm tin, hãy “tỏ ra như bạn đã có niềm tin” và hành động như bạn đã thật sự có niềm tin vào bản thân. Trong mọi trường hợp, dù đang lúng túng hay hoang mang, hãy cứ hành động như bạn đã có sẵn niềm tin cho hành động, thì niềm tin dần dần sẽ xuất hiện và định hình trong bạn.

2 Sangfroid or Cold blood – Máu lạnh

Người có máu lạnh được coi là có khả năng giữ thái độ bình thản trước những tình huống áp lực cao. Trong việc học Luật, sinh viên thường phải đối mặt với một khối lượng đồ sộ các loại thông tin, và đòi hỏi họ phải thành thạo trong việc tiếp nhận, xử lý và nhận định. Không những vậy, sinh viên Luật thường được yêu cầu đọc các tài liệu pháp lý (case/vụ án), hoặc viết các bài luận trong thời gian ngắn. Và để vượt qua tất cả những chướng ngại vật đầy mồ hôi và nước mắt đó, người học Luật phải trang bị cho họ khả năng “bình thản trước mưa bom bão đạn” (stay cool).

Và để “stay cool” trong đống bài vở pháp lý ngổn ngang và chồng chất (hoặc sau này là những vụ việc chồng việc, hoặc án chồng án) bạn cần phải có chiến lược. Đó là không được nhìn công việc như một khối đồ sộ, mà nên “bẻ nát, đập vụn”, rồi sau đó tập trung không ngừng nghỉ vào từng mảnh nhỏ của công việc lớn. Từng bước một đi đến một kết quả cuối cùng.

3 Organization – Trật tự

Để sinh tồn trong ngành Luật mỗi sinh viên Luật đều nên phải xây đắp cho mình bản tính ngăn nắp-trật tự trong suy nghĩ.  Hãy ghì trong não Nguyên tắc sắt (Iron rule) của giới Luật sư: “trình bày rõ ràng, hoặc là chết”. Bạn sẽ không thể trình bày rõ ràng nếu mọi suy nghĩ trong não bạn không được sắp xếp theo một thứ tự hợp lý và mạch lạc nhất. Tất nhiên, một chút tự nhiên của bản năng hay lộn xộn trong tư duy cũng không hại gì lắm. Vì hầu hết những người tư duy theo đường thẳng (thinking in straight lines) thường không có khả năng nhận định những vấn đề phức tạp, hoặc không thể “nhìn sâu trông rộng” về những nguyên nhân sâu xa bên trong của vấn đề. Nhưng cuối cùng, bạn vẫn phải sắp đặt mọi suy nghĩ theo những trật tự nhất định, và trình bày những ý nghĩ đó một cách rõ ràng.

4 Focus – Tập trung

Nhà triết học Pháp, Blaise Pascal đã từng nói rằng “lý do duy nhất khiến một người đàn ông không cảm thấy hạnh phúc là bởi anh ta không biết giữ im lặng trong căn phòng của mình”. Điều này có thể đúng hoặc không đúng cho tất cả (tôi cho rằng là đúng), nhưng hoàn toàn đúng đối với những người học Luật. Một người luôn ở trong trạng thái bồn chồn lo âu, hoặc luôn dễ dàng bị phân tâm có xu hướng không được thành công lắm trong việc học Luật. Do vậy, tập trung là phẩm chất vô cùng quan trọng cho bất cứ ai theo đuổi ngành Luật.

Một khả năng làm việc không nghỉ là điều cần thiết cho những ai học Luật. Bởi lẽ, để giải quyết những vấn đề pháp lý hóc búa đòi hỏi bất cứ sinh viên Luật nào một sự tập trung cao độ trước khi người đó có thể thấu hiểu vấn đề một cách toàn diện.

5 Self-control – Sự tự chủ/tự kiểm soát

Một trong những phẩm chất cần thiết nữa cho người học Luật, đó là khả năng từ chối (say No) trong những trường hợp mà những người bình thường sẽ hứng thú đồng ý (say Yes). Nói cách khác, người học Luật cần phải biết từ chối những thứ hấp dẫn nhất thời/hiện tại, để tập trung cho mục tiêu, cái mà sẽ tạo ra những điều đáng giá và hấp dẫn hơn nhiều trong tương lai. Ai cũng biết Facebook và Youtube dễ khiến mọi người phân tâm, đó là bởi vì nó thú vị và đầy thứ hấp dẫn, và nó có khả năng kéo mọi người từ thứ hấp dẫn này đến thứ thú vị khác. Nhưng tắt điện thoại, đọc kỹ một vụ án sẽ khiến sinh viên Luật có khả năng đạt điểm cao hơn trong kỳ thi, và do đó, có thể tốt nghiệp loại giỏi để có nhiều cơ hội công việc tốt hơn. Đó, chính là quy trình và “hậu quả” có thể xảy ra với những sinh viên Luật biết tự kiểm soát bản thân.

6 Curiousity – Sự tò mò

Để thành công trong việc học Luật, bạn cần phải thật sự tò mò muốn biết về nó, nghĩa là bạn không chỉ lướt qua bề mặt của mỗi ngành Luật, mỗi môn học, mà phải hứng thú tìm hiểu mọi ý nghĩa chi tiết của Luật. Thực tế là, hầu hết các sinh viên Luật chỉ thật sự phát hiện ra động lực học Luật của mình sau khi đã bắt đầu quá trình học. Một khi đã bị cuốn vào chương trình học, họ trở nên yêu và hứng khởi với mỗi bài học từ Luật. Nếu bạn tò mò về Luật, bạn sẽ cố để hiểu Luật trong từng câu từng chữ, từng quy định, đến tận cùng ý nghĩa của mỗi điều Luật. Nhưng điều này cũng chỉ xuất hiện với những người thật sự nghiêm túc trong việc học, rằng họ tiếp nhận, khám phá, mở rộng phạm vi bài học để thật sự xoáy vào những nội dung thực tế của Luật, chứ không phải chỉ là nội dung trên mỗi bài học. 

7 Love of reading – Thích đọc

Nếu chọn học Luật, bạn chắc chắn sẽ phải đọc rất nhiều tài liệu. Do đó, thiếu vắng một sự hứng khởi cơ bản với việc đọc sẽ khó đảm bảo cho bạn một kết quả học tập thành công ở trường Luật. Đối với bạn, nếu đọc sách là nhàm chán, đơn điệu và nặng nề, thì tốt hơn hết bạn nên chọn con đường khác.

8 Foxiness – Hiểu sâu biết rộng

Sinh viên Luật sẽ cần phải là người hiểu sâu, biết rộng. Điều này là bởi lẽ, Luật, là một chuyên ngành được định hình bởi, và liên quan đến rất nhiều các quan hệ xã hội cũng như các chuyên ngành học khác, như kinh tế, chính trị, tâm lý, lịch sử, hoặc thậm chí nhân chủng học… Tất cả những quan hệ xã hội và những nội dung của các chuyên ngành học độc lập này đều được các nhà lập pháp xem xét trong quá trình làm luật, nhằm định hình một xã hội mong muốn. Nếu bạn thật sự muốn hiểu Luật là gì, và Luật thì nên như thế nào, hoặc bạn thậm chí muốn trở thành người góp phần xây dựng nên những điều Luật cho xã hội, thì bạn cần phải sẵn sàng để “học cả thế giới”. (Điều này không có nghĩa là bạn phải “học cả thế giới” rồi thì mới có thể học Luật, nhưng có nghĩa là bạn phải sẵn sàng học và tìm hiểu tất cả những gì mà Luật dẫn bạn đến. Ví dụ như, khi bạn học Luật hình sự thì biết trước một chút kiến thức về tâm lý học hành vi sẽ giúp bạn tư duy mạch lạc hơn về động cơ hoặc mục đích của người có hành vi phạm tội. Nhưng nếu không biết gì về tâm lý học, thì bạn phải sẵn sàng bỏ thêm thời gian cho chuyên ngành này, bên cạnh Luật hình sự. Khả năng hiểu sâu biết rộng hữu ích và cần thiết cho sinh viên Luật là vậy – Giải thích thêm của người dịch)

9 Expressiveness – Bộc lộ bản thân

Như đã được đồng ý rằng “Luật, cơ bản mà nói, chính là một cuộc đối thoại để tìm ra một hình thái xã hội đáng sống”, học Luật thực ra chính là học và tham gia vào cuộc đối thoại này. Do đó, bạn phải thể hiện bản thân nếu như bạn thật sự muốn có được vị trí nào đó trong cuộc đối thoại. Trong học Luật, bạn sẽ phải sẵn sàng thể hiện suy nghĩ của mình dưới  bất cứ dạng thức nào, từ viết bài luận cho đến tranh luận với giáo viên, hoặc các bạn cùng học, hoặc với bất cứ ai hứng thú với chủ đề mà bạn đang quan tâm, hoặc xã hội đang quan tâm. Nếu bạn thấy khó để nói ra những điều bạn nghĩ, vậy thì khả năng cao là bạn cũng rất khó để thành công trong học Luật.

Một trong những lý do kiềm chế khả năng bộc lộ của con người chính là sự sợ hãi, sợ hãi điều gì đó có thể xảy ra, dù không rõ là điều gì. Một sinh viên Luật có thể muốn phản biện trước lớp, rằng người có hành vi phạm tội phải được đối xử công bằng dựa trên nguyên tắc “mọi cá nhân đều được coi là vô tội trước khi có bản án của toà án quyết định anh ta có tội”. Nhưng sinh viên này cũng có thể lựa chọn “không nói gì’, vì sợ rằng tất cả mọi người đều nghĩ khác, và do đó anh ta sẽ bị chê cười. Vậy thì cách duy nhất để vượt qua sợ hãi đó là hãy làm “những điều đáng lo sợ đó”, để xem điều gì có thể xảy ra. Nếu bạn sinh viên Luật chọn để hiện quan điểm trước lớp thì sinh viên đó sẽ nhận ra, hầu hết mọi người đều đồng ý rằng “mọi người phải được đảm bảo đối xử công bằng với các quyền luật định trước khi người đó bị toà án tuyên có tội bởi một phán quyết”. Nhưng kể cả trong trường hợp bộc lộ quan điểm và bị chê cười, thì người sinh viên Luật này cũng nhận ra rằng, thực ra có quan điểm khác với mọi người cũng không có gì ghê gớm lắm, và mọi người đều có thể có quan điểm trái ngược nhau. Do đó, chê cười người có quan điểm trái ngược mới là điều không nên làm. Điều này sẽ chỉ thúc đẩy sinh viên Luật tìm hiểu, và làm rõ thêm về những vấn đề đối lập này.

10 Accuracy – Sự chính xác

Sự chính xác là điều vô cùng quan trọng đối với sinh viên Luật. Sẽ là không thể chấp nhận được nếu một người học Luật lại trích dẫn sai điều Luật trong khi điều Luật đó đã được minh thị một cách rõ ràng, hoặc áp dụng sai Luật trong những trường hợp cụ thể; hoặc lập luận được đưa ra  không đủ chắc chắn trước một quá trình kiểm chứng logic. Điều này có nghĩa là, một khi chọn học Luật và làm bất kể công việc gì liên quan đến Luật, bạn phải loại bỏ ngay khái niệm “cũng đúng/gần đúng”, mà chỉ có “đúng”, hoặc “sai” chứ không có cái gì na ná (being close to being right is nowhere near good enough in this game).

Hãy thử xem xét ví dụ này:

D gửi cho kẻ thù của mình là A một bưu kiện chứa bom với sự sắp đặt rằng, khi A mở gói hàng ra thì bom sẽ nổ và A sẽ bị giết. Tuy vậy, ngay sau khi gửi gói hàng, D hối hận và gọi điện cho cảnh sát thú nhận về những gì mình đã làm, đồng thời hướng dẫn cụ thể để cảnh sát tháo ngòi nổ. B – một nhân viên trong đội tháo gỡ bom, được giao nhiệm vụ tháo gỡ quả bom mà B gửi đi. Đáng tiếc là trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, B đã vô tình cắt nhầm dây nối, dẫn đến việc quả bom phát nổ, B chết.

Như bạn đã được biết trong Bức thư số 2 rằng, một người được xác định là phạm tội giết người nếu người đó thoả mãn 03 yếu tố (i) hành động của người đó gây ra cái chết cho người khác; (ii) người đó hành động với sự cố ý gây ra cái chết; và (iii) người đó không có ngoại lệ hợp pháp, hoặc biện minh hợp lý nào. Thực ra trong độ tuổi 18-19 của các bạn sinh viên Luật khi mới bắt đầu khoá học, cũng không có gì quá nghiêm trọng nếu hầu hết trong số các bạn không thể áp dụng chính xác khái niệm này để xác định tội phạm. Có thể các bạn sẽ lập luận rằng “B không phạm tội giết người, vì tại thời điểm B bị chết, D không còn ý định muốn giết ai”. Trong khi khái niệm đã chỉ rõ rằng, “tại thời điểm D thực hiện hành động gửi quả bom đi, D đã có ý định giết ai đó (A), và ý định này được tính”. Bạn cũng có thể lập luận rằng “D không phạm tội giết người, vì D gửi đi quả bom với ý định giết A, chứ không phải B”. Nhưng khái niệm cũng đã chỉ rõ, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, D đã có ý định để giết ai đó, rằng ai đó sẽ phải chết. Thực ra, một sinh viên Luật được coi là áp dụng đúng Luật để xác định tội phạm trong trường hợp này, chỉ cần quan tâm đến một yếu tố duy nhất đó là “liệu rằng hành động gửi quả bom của D làm cho B bị chết”. Nếu đúng là vì D gửi đi quả bom khiến B bị chết thì tất cả các yếu tố khác cũng thoả mãn để xác định D phạm tội giết người.

11 Flexibility – Sự mềm dẻo hoặc linh hoạt

Sinh viên Luật sẽ cần sự mềm dẻo trong tư duy và nhận định để có thể đánh giá một lập luận từ nhiều phía. Điều này không có nghĩa là sinh viên Luật sẽ không có khả năng để đưa ra một kết luận rằng lập luận của bên nào là mạnh hơn hoặc yếu hơn, hoặc không rơi vào cái bẫy tư duy một chiều.

Thử xem xét ví dụ dưới đây:

Peter and Mary được thông báo rằng, Adam – cậu con trai mới sinh của họ có vấn đề về sức khỏe, sau này sẽ cần phải thay tủy thì mới có thể sống lâu dài. Đáng tiếc là cả Peter và Mary đều không phù hợp để hiến tủy. Hai người quyết định sinh thêm đứa con thứ hai, với hi vọng rằng tuỷ của đứa con này sẽ phù hợp để thay cho Adam. Ba năm sau, họ sinh ra Eve, may mắn thay tủy của Eve hợp với tuỷ của Adam. Adam lúc này đã 12 tuổi và sẽ chết nếu không được thay tủy. Nhưng Eve không đồng ý trải qua cuộc phẫu thuật đầy đau đớn và quá trình phục hồi trong bệnh viện để hiến tủy. Tại thời điểm này, cũng không có nguồn tuỷ hiến tặng nào khác. Liệu bố mẹ của Eve có được phép ép buộc Eve hiến tủy cho anh trai?

Nếu bạn trả lời một cách bản năng, rằng “Không, Eve có quyền để không bị ép buộc làm những gì trái ý muốn”. Vậy hãy nghĩ lại một chút. Câu hỏi là, liệu rằng Eve có quyền hay không? Bạn sẽ không thể trả lời đơn giản dựa trên niềm tin rằng Eve có quyền. Bởi, nếu khẳng định một cách đơn giản như vậy cũng chính là sự khép đóng tư duy vào một sự cứng nhắc, khiên cưỡng. Và có thể người khác cũng sẽ có suy nghĩ cứng nhắc như vậy, nhưng ở chiều ngược lại, rằng “Eve không có quyền”.

Cứ cho rằng “Eve có quyền không bị cưỡng ép”, nhưng hãy thử cân nhắc một “sự có thể” khác, rằng bố mẹ của Eve nên được cho phép để ép Eve thực hiện cuộc phẫu thuật hiến tủy này. Điểm bắt đầu tốt nhất để cân nhắc một lập luận trái ngược trong trường hợp này đó là xem xét các khả năng mà rõ ràng là bố mẹ của Eve nên được cho phép. Ví dụ, Eve có vấn đề về răng và cần phải đến phòng khám gặp nha sĩ, nhưng Eve quá sợ mà không chịu đi. Trong hoàn cảnh này bố mẹ của Eve nên được cho phép cưỡng ép Eve, vì lợi ích của chính Eve. Điểm này giúp chúng ta có một số điểm tựa để lập luận. Liệu rằng cưỡng ép Eve thực hiện phẫu thuật hiến tủy có chính đáng? Chúng ta sẽ phải xem xét liệu rằng thực hiện cuộc phẫu thuật hiến tủy có phải là vì lợi ích tốt nhất của Eve?

Sinh viên Luật với khả năng tư duy linh hoạt sẽ nhận ra rằng, sẽ có những lập luận cho cả hai phía. Một bên có thể lập luận rằng, việc Eve không đồng ý hiến tủy, do đó, không ai được phép cưỡng ép, sẽ mang lại những tổn hại cho chính Eve. Rõ ràng là Eve sẽ mất đi người anh trai, người bạn đồng hành trong cuộc sống thời niên thiếu của mình. Hơn nữa, lập luận cũng có thể đưa ra rằng, sẽ có những tổn hại về mặt tâm lý khi lớn lên, Eve phải sống trong sự dằn vặt vì đã không cứu anh trai khi bản thân có thể. Ngược lại, lập luận cũng có thể đưa ra, rằng cưỡng ép Eve thực hiện phẫu thuật không phải vì lợi ích của Eve, mà còn mang lại những tổn hại khác. Rằng, Eve sẽ sống trong bực tức vì nghĩ bố mẹ không có chút tôn trọng nào, và bản thân chỉ là nguồn hiến tặng cho Adam khi cần thiết. Eve cũng có thể gặp phải những chấn thương/thương tật đối với cơ thể mình sau khi thực hiện ca phẫu thuật.

12 Judgment –  Sự phán xét

Nếu chỉ dừng lại ở việc có khả năng nhận định lập luận từ cả hai phía trong một vấn đề một cách mềm dẻo, linh hoạt thì không đủ để sinh viên Luật có thể thành công trong học tập cũng như việc hành nghề sau này. Sinh viên Luật cần phải có khả năng nhận định lập luận của phía nào mạnh hơn, và chính đáng hơn, để cuối cùng, hình thành phán xét của mình về vấn đề đó. 

Để hình thành một khả năng phán xét tốt, cần tối thiểu hai khả năng khác, đó là khả năng phân biệt điều gì quan trọng, và điều gì kém quan trọng hơn; và khả năng ra quyết định dựa trên “trí khôn của ta đây” (practical wisdom). Nếu bạn chưa có khả năng thứ nhất, rằng bạn thấy khó để nhận định đâu là điều quan trọng, đâu là cái ít quan trọng hơn. Vậy thì hãy bắt đầu tập luyện để hình thành kĩ năng này, bằng việc tập tóm tắt các tài liệu. Bằng việc tóm tắt các tài liệu, bất cứ cái gì bạn đọc, giảm xuống khoảng 10% của văn bản gốc, dần dần sự nhận biết các điểm trọng yếu sẽ hình thành trong trí não. 

Khả năng thứ hai là khả năng nhận định đâu là điều đúng nên làm trong những trường hợp cố định với rất nhiều lựa chọn. Giả sử, bạn tham gia kỳ thi với câu hỏi “Đề xuất những giải pháp cải cách Luật hình sự, với 96 dòng”. Bạn sẽ xử lý như thế nào trong tình huống này với khoảng giới hạn câu chữ đó? Bạn có thể chọn viết bài luận gợi ý (1) 16 vấn đề cần cải cách, và dành 6 dòng cho mỗi đề xuất; (2) 8 vấn đề cần cải cách, và dành 12 dòng cho mỗi đề xuất, hoặc (3) 3 vấn đề cần cải cách với 32 dòng cho mỗi vấn đề. Lựa chọn được đưa ra nhờ sử dụng “trí khôn của ta đây” phải là phương án thứ 3. Bạn sẽ không thể nào viết một bài luận thuyết phục về việc cải cách Luật hình sự với mỗi lập luận khoảng 6 đến 12 dòng. Sinh viên với “trí khôn của ta đây” sẽ nhận ra rằng phương án thứ ba với 3 gợi ý cải cách là khả dĩ nhất để gây ấn tượng với người chấm thi, đồng thời dùng hầu hết thời gian để củng cố 3 lập luận của mình.

Trên đây là 12 phẩm chất mà bất cứ người học Luật nào cũng cần có để trở nên thành công trong việc học, cũng như sự nghiệp sau này. Bạn có thể tự hỏi rằng “tại sao những người giỏi Luật lại đặc biệt?”. Đó là vì họ có, và luôn sẵn sàng làm cho mình có một tổ hợp những kỹ năng và khả năng nhờ cả bản năng tự nhiên và sự rèn luyện mỗi ngày.

Doan Nguyen

Bài viết được dịch từ “Bức thư số 04: 12 phẩm chất sinh viên Luật nên (phải) có” (But is law the right subject for me?) trong cuốn sách “Những bức thư gửi một sinh viên Luật: Cẩm nang học luật tại trường đại học” của Giáo sư Nicholas L. McBride, tái bản lần thứ tư năm 2018, nhà xuất bản Pearson, Vương Quốc Anh.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: